Công văn 1101/BKHCN-CNS&CĐS năm 2026 do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành đề xuất các nội dung quan trọng liên quan đến việc xây dựng Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) có rủi ro cao. Đây là văn bản định hướng chi tiết về mặt pháp lý nhằm kiểm soát các rủi ro từ công nghệ AI, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân và an ninh quốc gia.
1. Quy định về Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
Theo quy định tại Điều 7, Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành dựa trên quy định tại Luật Trí tuệ nhân tạo, bao gồm các nhóm đối tượng sau:
- Các hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định là có rủi ro cao, ngoại trừ các trường hợp được loại trừ cụ thể theo quy định pháp luật.
- Các hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao bắt buộc phải thực hiện chứng nhận sự phù hợp trước khi chính thức đưa vào sử dụng.
Về trách nhiệm xây dựng, cập nhật và quản lý Danh mục:
- Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ để xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, sửa đổi hoặc bổ sung Danh mục này dựa trên các tiêu chí và nguyên tắc khoa học.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm chủ động rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung Danh mục đối với các hệ thống AI thuộc phạm vi lĩnh vực quản lý chuyên ngành, sau đó gửi về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
2. Tiêu chí xác định hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
Điều 8 quy định rõ các tiêu chí cốt lõi để Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan đánh giá, đề xuất đưa một hệ thống AI vào Danh mục rủi ro cao, bao gồm:
- Mức độ tác động: Đánh giá khả năng hệ thống AI tự chủ ra quyết định, thực thi hành động hoặc hỗ trợ ra quyết định mà có thể dẫn đến các thiệt hại đáng kể đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân, quyền con người hoặc an ninh quốc gia, bao gồm cả các thiệt hại khó khắc phục hoặc không thể khắc phục.
- Lĩnh vực sử dụng: Tập trung vào các hệ thống AI được triển khai trong các lĩnh vực thiết yếu theo quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo, bao gồm y tế, giáo dục, tuyển dụng và việc làm, tài chính - ngân hàng, giao thông vận tải, năng lượng, tư pháp, hệ thống hạ tầng kỹ thuật trọng yếu, hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
- Phạm vi ảnh hưởng: Xem xét quy mô người sử dụng, số lượng đối tượng chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, cũng như mức độ kết nối của hệ thống AI với các hệ thống hạ tầng kỹ thuật quan trọng.
3. Nguyên tắc loại trừ không áp dụng chế độ quản lý rủi ro cao
Nhằm tạo điều kiện cho nghiên cứu và phát triển công nghệ, Thủ tướng Chính phủ quy định các trường hợp ngoại lệ không áp dụng chế độ quản lý đối với hệ thống AI có rủi ro cao khi đáp ứng một trong các nguyên tắc sau:
- Hệ thống chỉ thực hiện các tác vụ kỹ thuật đơn thuần như thu thập, xử lý, chuẩn hóa, phân loại, dịch thuật hoặc cải thiện chất lượng dữ liệu mà không trực tiếp tạo lập quyết định làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Hệ thống có thiết lập cơ chế kỹ thuật và quy trình vận hành đảm bảo con người có thẩm quyền có thể xem xét độc lập, can thiệp, từ chối hoặc ghi đè (override) quyết định của hệ thống trước khi quyết định đó phát sinh hiệu lực.
- Hệ thống chỉ được sử dụng phục vụ hoạt động quản trị, vận hành nội bộ của tổ chức, doanh nghiệp và không gây tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ pháp lý hoặc lợi ích hợp pháp của cá nhân bên ngoài tổ chức.
- Hệ thống đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển trong môi trường có kiểm soát và chưa được cung cấp ra thị trường hoặc đưa vào sử dụng chính thức.
- Hệ thống chỉ thực hiện chức năng phân tích, dự báo, đánh giá hoặc đưa ra khuyến nghị mang tính chất tham khảo, đồng thời nhà cung cấp và bên triển khai không được phép sử dụng kết quả đầu ra này làm căn cứ duy nhất để ra quyết định cuối cùng.
4. Trường hợp đặc biệt áp dụng chế độ quản lý nghiêm ngặt
Mặc dù một hệ thống AI có thể đáp ứng các nguyên tắc loại trừ nêu trên, nhưng nếu có căn cứ xác thực cho thấy nguy cơ thực tế gây thiệt hại nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh hoặc trật tự, an toàn xã hội, Thủ tướng Chính phủ vẫn quyết định áp dụng chế độ quản lý đối với hệ thống AI có rủi ro cao và nêu rõ căn cứ cụ thể trong Quyết định ban hành Danh mục.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1101/BKHCN-CNS&CĐS | Hà Nội, ngày 03 tháng 03 năm 2026 |
| Kính gửi: | - Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; |
Thực hiện Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025 và nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 2835/QĐ-TTg ngày 31/12/2025 về ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khoá XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KHCN) đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao. Nhằm mục đích xây dựng danh mục, Bộ KHCN trân trọng đề nghị Quý cơ quan, đơn vị căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Trí tuệ nhân tạo (cụ thể Điều 9, Điều 14) để đề xuất Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao và Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng (theo Biểu mẫu 01 và Biểu mẫu 02 tại Phụ lục I đính kèm công văn này). Để đề xuất được sát với văn bản quy phạm phát luật cấp cao hơn sẽ được ban hành trước là Nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo, Bộ KHCN đề nghị Quý cơ quan, đơn vị nghiên cứu thêm Điều 7, Điều 8 của Dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo (trích gửi tại Phụ lục II kèm theo công văn này) trong quá trình đề xuất. Văn bản đề xuất các hệ thống cho 02 Danh mục xin gửi về Bộ KHCN trước17h00, ngày 06/03/2026 theo địa chỉ:
Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số Quốc gia,
Tầng 6 - Số 115 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội.
Thông tin chi tiết xin liên hệ: Ông Đặng Chiến Công, số điện thoại: 0915979474, địa chỉ thư điện tử: dccong@mst.gov.vn.
Trân trọng cảm ơn./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
PHỤ LỤC I
(Kèm theo Công văn số 1101/BKHCN-CNS&CĐS ngày 03 tháng 03 năm 2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ)
Biểu mẫu 01
DANH MỤC HỆ THỐNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ RỦI RO CAO
| STT | Lĩnh vực | Tên hệ thống được xác định theo công dụng hoặc mục đích sử dụng | Phạm vi và điều kiện xác định hệ thống thuộc Danh mục |
| (1) | (2) | (3) | (4) |
|
|
|
|
|
Ví dụ để các cơ quan đơn vị nghiên cứu:
Ví dụ 1:
- Cột (2): Y tế và Chăm sóc sức khỏe
- Cột (3): Hệ thống hỗ trợ đưa ra phác đồ điều trị hoặc quyết định chỉ định can thiệp y tế xâm lấn trên cơ thể người bệnh.
- Cột (4): Chỉ áp dụng khi hệ thống trực tiếp ra quyết định hoặc thực thi mà không qua khâu xem xét, phê duyệt độc lập của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
Ví dụ 2:
- Cột (1): Giáo dục và Đào tạo
- Cột (2): Hệ thống tự động chấm điểm và xếp hạng hồ sơ của người học.
- Cột (3): Chỉ áp dụng đối với các quyết định mang tính quyết định trực tiếp đến kết quả các kỳ thi, cuộc tuyển sinh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức (bao gồm tuyển sinh đại học, cao đẳng, thi tốt nghiệp THPT, thi công chức hoặc các kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề quốc gia).
Ví dụ 3:
- Cột (1): Lao động và Việc làm
- Cột (2): Hệ thống tự động phân tích hồ sơ, đánh giá hành vi và đưa ra quyết định loại bỏ ứng viên tuyển dụng hoặc quyết định chấm dứt hợp đồng lao động.
- Cột (3): Chỉ áp dụng khi hệ thống tự động ra quyết định cuối cùng làm mất cơ hội việc làm của cá nhân hoặc chấm dứt quan hệ lao động mà không có sự phê duyệt lại của bộ phận nhân sự.
Ví dụ 4:
- Cột (1): Tài chính - Ngân hàng
- Cột (2): Hệ thống tự động chấm điểm tín dụng và trực tiếp ra quyết định phê duyệt hoặc từ chối cấp tín dụng cho vay đối với cá nhân, tổ chức.
- Cột (3): Chỉ áp dụng khi hệ thống tự động đưa ra quyết định cuối cùng về việc cấp tín dụng mà không có sự xem xét, phê duyệt của cán bộ tín dụng.
Ví dụ 5:
- Cột (1): Tài chính - Ngân hàng
- Cột (2): Hệ thống tự động ra quyết định phong tỏa, khóa tài khoản hoặc ngăn chặn giao dịch chuyển khoản do nghi ngờ gian lận.
- Cột (3): Chỉ áp dụng khi hệ thống tự động thực thi lệnh khóa/phong tỏa làm gián đoạn quyền sử dụng tài sản của khách hàng mà không có sự xác minh của nhân viên ngân hàng.
Ví dụ 6:
- Cột (1): Giao thông vận tải
- Cột (2): Hệ thống điều khiển tự hành cấp độ cao trên các phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, hàng hải, hàng không.
- Cột (3): Chỉ áp dụng đối với các hệ thống tự hành vận hành ở cấp độ 3, 4, 5 theo tiêu chuẩn SAE J3016 hoặc tiêu chuẩn tương đương, không yêu cầu sự can thiệp và kiểm soát liên tục của người điều khiển phương tiện trên thực tế.
Ví dụ 7:
- Cột (1): Hạ tầng kỹ thuật trọng yếu
- Cột (2): Hệ thống tự động ra lệnh điều khiển, đóng ngắt hoặc phân bổ nguồn lực thuộc hệ thống điều độ điện quốc gia hoặc cung cấp nước sạch cấp tỉnh.
- Cột (3): Chỉ áp dụng đối với các hệ thống có quyền truy cập và can thiệp trực tiếp vào lưới điều khiển vật lý (hệ thống SCADA/ICS) của hạ tầng.
Ví dụ 8:
- Cột (1): An ninh, Trật tự và Thực thi pháp luật
- Cột (2): Hệ thống nhận diện sinh trắc học tự động theo thời gian thực tại không gian công cộng.
- Cột (3): Chỉ áp dụng cho mục đích giám sát, thực thi pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Biểu mẫu 02
DANH MỤC CÁC HỆ THỐNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO CÓ RỦI RO CAO PHẢI CHỨNG NHẬN SỰ PHÙ HỢP TRƯỚC KHI ĐƯA VÀO SỬ DỤNG
| STT | Lĩnh vực | Tên hệ thống được xác định theo công dụng hoặc mục đích sử dụng | Phạm vi và điều kiện xác định hệ thống thuộc Danh mục |
| (1) | (2) | (3) | (4) |
|
|
|
|
|
Ví dụ để các cơ quan đơn vị nghiên cứu:
Ví dụ 1:
- Cột (2): Y tế và Chăm sóc sức khỏe
- Cột (3): Hệ thống hỗ trợ đưa ra phác đồ điều trị hoặc quyết định chỉ định can thiệp y tế xâm lấn trên cơ thể người bệnh.
- Cột (4): Chỉ áp dụng khi hệ thống trực tiếp ra quyết định hoặc thực thi mà không qua khâu xem xét, phê duyệt độc lập của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
PHỤ LỤC II
(Kèm theo Công văn số 1101/BKHCN-CNS&CĐS ngày 03 tháng 03 năm 2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ)
Trích quy định dự kiến về hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao của Dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo
Điều 7. Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo bao gồm:
a) Các hệ thống trí tuệ nhân tạo được xác định là có rủi ro cao, không bao gồm các trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo được loại trừ tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này;
b) Các hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao bắt buộc chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung Danh mục quy định tại khoản 1 Điều này trên cơ sở tiêu chí, nguyên tắc quy định tại Điều 8 của Nghị định này.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm rà soát, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung Danh mục quy định tại khoản 1 Điều này đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc lĩnh vực quản lý, gửi Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Điều 8. Tiêu chí và nguyên tắc xây dựng Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan đánh giá, đề xuất hệ thống trí tuệ nhân tạo đưa vào Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao căn cứ các tiêu chí sau đây:
a) Mức độ tác động: Khả năng hệ thống ra quyết định, thực thi hành động một cách tự chủ hoặc hỗ trợ ra quyết định, có thể dẫn đến thiệt hại đáng kể đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền con người hoặc an ninh quốc gia, bao gồm thiệt hại khó khắc phục hoặc không thể khắc phục;
b) Lĩnh vực sử dụng: Triển khai trong lĩnh vực thiết yếu quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Trí tuệ nhân tạo, bao gồm y tế, giáo dục, tuyển dụng và việc làm, tài chính - ngân hàng, giao thông vận tải, năng lượng, tư pháp, hệ thống hạ tầng kỹ thuật trọng yếu hoặc trong hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công;
c) Phạm vi ảnh hưởng: Quy mô người sử dụng, đối tượng chịu tác động hoặc mức độ kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật quan trọng.
2. Thủ tướng Chính phủ quy định các trường hợp không áp dụng chế độ quản lý đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao trong Quyết định ban hành Danh mục quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Trí tuệ nhân tạo khi hệ thống đáp ứng một trong các nguyên tắc sau đây:
a) Chỉ thực hiện các tác vụ thu thập, xử lý, chuẩn hóa, phân loại, dịch thuật hoặc cải thiện chất lượng dữ liệu; không trực tiếp tạo lập quyết định làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
b) Có cơ chế kỹ thuật và quy trình vận hành bảo đảm con người có thẩm quyền xem xét độc lập, can thiệp, từ chối hoặc ghi đè quyết định của hệ thống trước khi quyết định đó có hiệu lực;
c) Chỉ sử dụng phục vụ hoạt động quản trị, vận hành nội bộ của tổ chức, doanh nghiệp; không trực tiếp tác động đến quyền, nghĩa vụ pháp lý hoặc lợi ích hợp pháp của cá nhân bên ngoài tổ chức;
d) Đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển trong môi trường có kiểm soát; chưa cung cấp ra thị trường hoặc chưa đưa vào sử dụng chính thức;
đ) Chỉ thực hiện chức năng phân tích, dự báo, đánh giá, khuyến nghị mang tính tham khảo; nhà cung cấp và bên triển khai không được sử dụng kết quả đầu ra làm căn cứ duy nhất để ra quyết định cuối cùng;
3. Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo đáp ứng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có căn cứ xác thực cho thấy nguy cơ thực tế gây thiệt hại nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh hoặc trật tự, an toàn xã hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng chế độ quản lý đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao và nêu rõ căn cứ trong Quyết định ban hành Danh mục.
Công văn 1101/BKHCN-CNS&CĐS năm 2026 đề xuất Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
- Số hiệu: 1101/BKHCN-CNS&CĐS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 03/03/2026
- Nơi ban hành: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Người ký: Phạm Đức Long
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 03/03/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
