Tóm tắt Công văn 1009/GSQL-GQ1 năm 2015 về ủy quyền nhập khẩu hàng hóa
Công văn 1009/GSQL-GQ1 do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn và làm rõ các quy định liên quan đến hoạt động ủy quyền nhập khẩu hàng hóa giữa các doanh nghiệp. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp và cơ quan hải quan địa phương trong quá trình làm thủ tục thông quan hàng hóa nhập khẩu theo hình thức ủy quyền.
- Cơ sở pháp lý và nguyên tắc ủy quyền nhập khẩu
- Hoạt động ủy quyền nhập khẩu hàng hóa phải được thực hiện dựa trên cơ sở thỏa thuận hợp pháp giữa bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại.
- Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản (hợp đồng ủy quyền hoặc văn bản ủy quyền hợp pháp), trong đó quy định rõ phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của các bên đối với lô hàng nhập khẩu.
- Quy định về thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu ủy quyền
- Người khai hải quan: Bên nhận ủy quyền được phép đứng tên trên tờ khai hải quan để thực hiện các thủ tục nhập khẩu hàng hóa theo đúng phạm vi được ủy quyền.
- Hồ sơ hải quan: Ngoài các chứng từ thương mại thông thường theo quy định (như hóa đơn, vận đơn, chứng nhận xuất xứ...), người khai hải quan phải xuất trình văn bản ủy quyền nhập khẩu hợp lệ cho cơ quan hải quan để kiểm tra, đối chiếu.
- Tên trên chứng từ: Các chứng từ thương mại có thể thể hiện tên của bên ủy quyền hoặc bên nhận ủy quyền tùy thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền, nhưng phải đảm bảo tính thống nhất và giải trình được mối quan hệ ủy quyền.
- Trách nhiệm về thuế và nghĩa vụ tài chính
- Nghĩa vụ nộp thuế: Bên nhận ủy quyền thực hiện việc kê khai và nộp các loại thuế liên quan đến lô hàng nhập khẩu (thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có) vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
- Hóa đơn và chứng từ thanh toán: Việc thanh toán tiền hàng cho đối tác nước ngoài và việc phát hành hóa đơn nội bộ giữa bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý ngoại hối và pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
- Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn 1009/GSQL-GQ1 tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua hình thức ủy quyền. Đồng thời, văn bản này giúp thống nhất quy trình thực hiện thủ tục hải quan tại các chi cục hải quan trên toàn quốc, tránh tình trạng áp dụng quy định thiếu đồng nhất gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1009/GSQL-GQ1 | Hà Nội, ngày 07 tháng 09 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Hải quan tỉnh Đắk Lắk.
Trả lời công văn số 777/HQĐL-NV ngày 24/8/2015 của Cục Hải quan tỉnh Đắk Lắk về việc nêu tại trích yếu, Cục Giám sát quản lý về Hải quan – Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Người khai hải quan muốn đứng tên người nhập khẩu trên tờ khai hải quan phải đăng ký mã số người sử dụng trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan và phải xuất trình được các chứng từ chứng minh quyền sở hữu hàng hóa nhập khẩu (đứng tên người nhận hàng trên vận tải đơn, hóa đơn thương mại,...). Trường hợp người khai hải quan là chủ hàng nhưng chưa đăng ký mã số người sử dụng trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải quan thì phải thực hiện thông qua đại lý hải quan. Do vậy:
1. Trường hợp nhập khẩu của Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và thương mại Sông Đà:
Đề nghị Cục Hải quan tỉnh Đắk Lắk đối chiếu cụ thể hồ sơ hải quan của Công ty. Trường hợp Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và thương mại Sông Đà là chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đứng tên trên các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan như hóa đơn thương mại, vận tải đơn,... thì Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và thương mại Sông Đà phải thực hiện khai báo hải quan và đứng tên người nhập khẩu trên tờ khai hải quan, không được ủy quyền việc khai báo hải quan và đứng tên người nhập khẩu cho chi nhánh của Công ty.
2. Trường hợp nhập khẩu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Tập đoàn Công nghiệp TKSVN):
Tập đoàn Công nghiệp TKSVN là chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, đứng tên trên các chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan như hóa đơn thương mại, vận tải đơn,... nhưng không tự thực hiện khai báo hải quan và làm các thủ tục hải quan khác thì căn cứ quy định tại Điều 5 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, Tập đoàn Công nghiệp TKSVN không được ủy quyền cho Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại - Vinacomin thực hiện thủ tục hải quan.
Cục Giám sát quản lý về Hải quan - Tổng cục Hải quan trả lời để Cục Hải quan tỉnh Đắk Lắk biết, thực hiện./.
|
| KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 5287/TCHQ-GSQL ủy quyền nhập khẩu hành lý cá nhân của người nước ngoài sang Việt Nam làm việc do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn 5552/BCT-XNK năm 2013 giấy chỉ định và giấy ủy quyền nhập khẩu rượu do Bộ Công thương ban hành
- 3Công văn 1001/GSQL-GQ1 năm 2014 ủy quyền đánh giá sự phù hợp chất lượng thép nhập khẩu do Cục Giám sát quản lý về hải quan ban hành
- 1Công văn 5287/TCHQ-GSQL ủy quyền nhập khẩu hành lý cá nhân của người nước ngoài sang Việt Nam làm việc do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn 5552/BCT-XNK năm 2013 giấy chỉ định và giấy ủy quyền nhập khẩu rượu do Bộ Công thương ban hành
- 3Công văn 1001/GSQL-GQ1 năm 2014 ủy quyền đánh giá sự phù hợp chất lượng thép nhập khẩu do Cục Giám sát quản lý về hải quan ban hành
- 4Nghị định 08/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan
Công văn 1009/GSQL-GQ1 năm 2015 về ủy quyền nhập khẩu hàng hóa do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- Số hiệu: 1009/GSQL-GQ1
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/09/2015
- Nơi ban hành: Cục Giám sát quản lý về hải quan
- Người ký: Âu Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/09/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
