Công ước nhằm ngăn chặn việc chiếm giữ bất hợp pháp tầu bay (thường được gọi là Công ước La Hay 1970) được ký kết vào ngày 16 tháng 12 năm 1970 tại La Hay nhằm thiết lập các biện pháp pháp lý quốc tế hiệu quả để ngăn chặn và trừng trị hành vi chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay (không tặc), bảo đảm an toàn cho hoạt động hàng không dân dụng quốc tế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Công ước
Công ước áp dụng đối với các hành vi chiếm giữ hoặc kiểm soát tàu bay bất hợp pháp bằng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bất kỳ hình thức đe dọa nào khác, được thực hiện bởi cá nhân có mặt trên tàu bay đang bay. Công ước loại trừ áp dụng đối với các tàu bay sử dụng cho mục đích quân sự, hải quan hoặc cảnh sát. Quy định của Công ước chủ yếu áp dụng khi nơi cất cánh hoặc nơi hạ cánh thực tế của tàu bay nằm ngoài lãnh thổ của Quốc gia đăng ký tàu bay đó, không phân biệt chuyến bay quốc tế hay nội địa.
Định nghĩa hành vi phạm tội và mức độ hình phạt
- Hành vi phạm tội được xác định khi một người ở trên tàu bay đang bay sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bất kỳ hình thức đe dọa nào khác để chiếm giữ, kiểm soát tàu bay bất hợp pháp, hoặc có ý định thực hiện hành vi đó, hoặc là đồng phạm của người thực hiện hành vi này.
- Một tàu bay được coi là "đang bay" từ thời điểm tất cả các cửa ngoài được đóng lại sau khi xếp tải cho đến khi bất kỳ cửa nào được mở để dỡ tải. Trong trường hợp hạ cánh bắt buộc, chuyến bay được coi là tiếp tục cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp quản trách nhiệm đối với tàu bay, người và tài sản trên tàu bay.
- Các Quốc gia thành viên cam kết áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội này trong hệ thống pháp luật quốc gia của mình.
Thiết lập quyền tài phán của các Quốc gia
- Mỗi Quốc gia ký kết phải thực hiện các biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán đối với hành vi phạm tội và các hành vi bạo lực chống lại hành khách hoặc tổ bay trong các trường hợp: tàu bay đăng ký tại Quốc gia đó; tàu bay hạ cánh xuống lãnh thổ của Quốc gia đó với kẻ tình nghi vẫn còn trên tàu; hoặc tàu bay được thuê không tổ lái cho người thuê có trụ sở kinh doanh chính hoặc nơi cư trú thường trực tại Quốc gia đó.
- Quốc gia thành viên cũng phải thiết lập quyền tài phán khi kẻ tình nghi đang có mặt trên lãnh thổ của mình và Quốc gia đó không thực hiện việc dẫn độ người đó sang các quốc gia có liên quan khác.
- Đối với các tổ chức khai thác vận tải hàng không chung hoặc cơ quan khai thác quốc tế sử dụng tàu bay đăng ký chung hoặc đăng ký quốc tế, các Quốc gia liên quan phải chỉ định một Quốc gia cụ thể thực hiện quyền tài phán và thông báo cho Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO).
Biện pháp ngăn chặn, điều tra và tố tụng
- Khi kẻ phạm tội hoặc kẻ bị tình nghi có mặt trên lãnh thổ của mình, Quốc gia thành viên phải ngay lập tức áp dụng các biện pháp bắt giữ hoặc các biện pháp cần thiết khác theo luật quốc gia để bảo đảm sự có mặt của người đó phục vụ cho việc tố tụng hoặc dẫn độ.
- Quốc gia bắt giữ phải tiến hành điều tra sơ bộ ngay lập tức, hỗ trợ người bị bắt liên lạc với đại diện ngoại giao của nước họ, và thông báo ngay cho Quốc gia đăng ký tàu bay, Quốc gia của người thuê tàu bay, Quốc gia mà người bị giam giữ mang quốc tịch và các bên liên quan khác về việc giam giữ cũng như kết quả điều tra sơ bộ.
- Nếu không dẫn độ kẻ tình nghi, Quốc gia thành viên nơi tìm thấy kẻ đó có nghĩa vụ chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền để tiến hành tố tụng hình sự mà không có bất kỳ ngoại lệ nào, xử lý tương tự như các vụ án hình sự nghiêm trọng thông thường khác.
Cơ chế dẫn độ và tương trợ tư pháp
- Hành vi chiếm giữ tàu bay bất hợp pháp được coi là tội danh có thể bị dẫn độ trong mọi điều ước về dẫn độ hiện có hoặc sẽ ký kết giữa các Quốc gia thành viên.
- Nếu một Quốc gia yêu cầu dẫn độ nhưng không có hiệp định dẫn độ song phương với Quốc gia được yêu cầu, Quốc gia được yêu cầu có thể coi Công ước này là cơ sở pháp lý để thực hiện dẫn độ.
- Về mặt địa lý của việc dẫn độ, hành vi phạm tội được coi là đã xảy ra không chỉ ở nơi thực tế diễn ra mà còn ở trên lãnh thổ của các Quốc gia có quyền tài phán theo quy định của Công ước.
- Các Quốc gia thành viên cam kết dành cho nhau sự tương trợ tư pháp đầy đủ nhất trong các thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến hành vi phạm tội này.
Khôi phục quyền kiểm soát tàu bay và bảo vệ hành khách
- Khi xảy ra hành vi chiếm giữ bất hợp pháp, các Quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để khôi phục hoặc duy trì quyền kiểm soát tàu bay của người chỉ huy hợp pháp.
- Quốc gia nơi tàu bay, hành khách hoặc tổ bay đang có mặt phải tạo điều kiện thuận lợi nhất để hành khách và tổ bay tiếp tục hành trình sớm nhất có thể, đồng thời nhanh chóng trả lại tàu bay và hàng hóa cho chủ sở hữu hợp pháp.
Nghĩa vụ thông tin và giải quyết tranh chấp
- Các Quốc gia thành viên có nghĩa vụ báo cáo nhanh nhất có thể cho Hội đồng Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) về các tình tiết của vụ phạm tội, các biện pháp khôi phục quyền kiểm soát tàu bay, và kết quả xử lý pháp lý hoặc dẫn độ đối với kẻ phạm tội.
- Mọi tranh chấp phát sinh giữa các Quốc gia thành viên về việc giải thích hoặc áp dụng Công ước mà không giải quyết được bằng thương lượng sẽ được đưa ra trọng tài. Nếu sau 06 tháng không thống nhất được việc tổ chức trọng tài, bất kỳ bên nào cũng có thể đưa tranh chấp ra Tòa án Quốc tế (ICJ). Các Quốc gia có quyền tuyên bố bảo lưu không chịu ràng buộc bởi điều khoản trọng tài này khi ký, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước.
Hiệu lực thi hành và các điều khoản cuối cùng
Công ước được mở để ký tại La Hay vào ngày 16 tháng 12 năm 1970 và sau đó tại Mát-xcơ-va, Luân Đôn, Oa-sinh-tơn từ sau ngày 31 tháng 12 năm 1970. Công ước chính thức có hiệu lực sau ba mươi ngày kể từ ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn của mười Quốc gia đã tham gia Hội nghị La Hay. Đối với các Quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập sau đó, Công ước có hiệu lực vào ngày Công ước chung có hiệu lực hoặc ba mươi ngày sau ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn/gia nhập của quốc gia đó, tùy thuộc vào ngày nào muộn hơn. Bất kỳ Quốc gia thành viên nào cũng có thể bãi bỏ Công ước bằng văn bản gửi tới các Chính phủ lưu chiểu (Liên Xô, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ), việc bãi bỏ sẽ có hiệu lực sau sáu tháng kể từ ngày nhận được thông báo.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
NHẰM NGĂN CHẶN VIỆC CHIẾM GIỮ BẤT HỢP PHÁP TẦU BAY
Ký tại La Hay, ngày 16 tháng 12 năm 1970
LỜI NÓI ĐẦU
Các quốc gia thành viên của Công ước này
Xét rằng những hành vi bất hợp pháp chiếm đoạt hoặc thực hiện việc kiểm soát tầu bay đang bay gây nguy hiểm tới an toàn của người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các chuyến bay và phá hoại lòng tin của các dân tộc trên thế giới về sự an toàn của hàng không dân dụng;
Xét rằng việc xẩy ra những hành vi như vậy là một vấn đề rất nghiêm trọng;
Xét rằng, nhằm ngăn chặn những hành động như vậy, việc đưa ra những biện pháp thích hợp để trừng phạt những kẻ phạm tội là nhu cầu rất cấp bách;
ĐÃ THỎA THUẬN NHƯ SAU:
Bất kỳ cá nhân nào ở trên tầu bay trong khi đang bay:
a) sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, hoặc bằng bất kỳ hình thức đe dọa nào khác, bất hợp pháp chiếm giữ, hoặc kiểm soát tầu bay đó, có ý định thực hiện bất kỳ hành vi nào như vậy, hoặc
b) là đồng phạm của kẻ thực hiện hoặc có ý định thực hiện bất kỳ hành vi nào như vậy.
thực hiện một hành vi phạm tội (sau đây gọi là “hành vi phạm tội”).
Mỗi Quốc gia ký kết cam kết trừng phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội.
2. Công ước này không áp dụng đối với tầu bay sử dụng cho quân đội, hải quan và cảnh sát.
3. Công ước này chỉ được áp dụng nếu như nơi cất cánh hoặc nơi hạ cánh thực tế của tầu bay mà hành vi phạm tội được thực hiện trên tầu bay ở ngoài lãnh thổ của Quốc gia đăng ký tầu bay đó, không phân biệt việc tầu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế hay nội địa.
4. Trong những trường hợp nêu tại Điều 5, Công ước này không áp dụng nếu nơi cất cánh và hạ cánh thực tế của tầu bay mà hành vi phạm tội được thực hiện trên tầu bay nằm ở trong lãnh thổ của cùng Quốc gia đó, mà Quốc gia đó là một trong các Quốc gia đã quy định tại Điều đó.
5. Không tính đến khoản 3 và khoản 4 Điều này, Điều 6, 7, 8 và Điều 10 sẽ được áp dụng không phụ thuộc vào nơi cất cánh hoặc hạ cánh thực tế của tầu bay, nếu kẻ phạm tội hoặc kẻ tình nghi phạm tội được phát hiện trong lãnh thổ của một Quốc gia khác không phải là Quốc gia đăng ký tầu bay đó.
a) khi hành vi phạm tội được thực hiện trên tầu bay được đăng ký ở Quốc gia đó;
b) khi trên tầu bay mà hành vi phạm tội được thực hiện hạ cánh ở lãnh thổ của Quốc gia đó mà kẻ bị tình nghi phạm tội vẫn ở trên tầu bay;
c) khi hành vi phạm tội được thực hiện trên tầu bay thuê cho người thuê không tổ lái mà người thuê có trụ sở kinh doanh chính hoặc trụ sở thường trực ở Quốc gia đó nêu không có trụ sở kinh doanh chính.
2. Tương tự như vậy, mỗi Quốc gia ký kết cần thực hiện những biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán của mình đối với hành vi phạm tội trong trường hợp nơi kẻ bị tình nghi phạm tội trong trường hợp nơi kẻ bị tình nghi phạm tội đang có mặt trong lãnh thổ của Quốc gia mình và Quốc gia này không dẫn độ người đó theo Điều 8 tới các Quốc gia nêu tại khoản 1 Điều này.
3. Công ước này không loại trừ bất kỳ quyền tài phán hình sự nào được thực hiện theo quy định của luật quốc gia.
2. Quốc gia đó sẽ tiến hành ngay việc điều tra sơ bộ sự việc đó.
3. Bất kỳ người nào bị bắt giữ theo khoản 1 của Điều này phải được giúp đỡ để liên lạc ngay lập tức với cơ quan đại diện thích hợp gần nhất của Quốc gia mà người đó là công dân.
4. Khi một Quốc gia bắt giữ một người theo Điều này, thì Quốc gia đó phải thông báo ngay cho Quốc gia đăng ký tầu bay, cho Quốc gia nêu tại khoản 1 (c) của Điều 4, Quốc gia mà người bị giam giữ mang quốc tịch và, nếu xét thấy cần thiết, thông báo cho các Quốc gia liên quan khác biệt về việc giam giữ người đó và về hoàn cảnh cho phép việc giam giữ đó. Quốc gia tiến hành điều tra sơ bộ nói tại khoản 2 của Điều này phải ngay lập tức báo cáo những phát hiện của mình cho các Quốc gia nói trên và phải cho biết mình có thực hiện quyền tài phán hay không?
2. Nếu một Quốc gia ký kết thực hiện việc dẫn độ với điều kiện phải cần sự tồn tại của một điều ước nhận được yêu cầu dẫn độ của một Quốc gia ký kết khác mà Quốc gia đó không có điều ước về dẫn độ, thì Quốc gia đó có thể xem xét lựa chọn Công ước này như là một cơ sở pháp lý cho việc dẫn độ đối với hành vi phạm tội đó. Việc dẫn độ sẽ tùy thuộc vào các điều kiện khác theo những quy định của Luật của Quốc gia được đề nghị.
3. Các Quốc gia ký kết thực hiện việc dẫn độ với điều kiện không cần sự tồn tại của một điều ước sẽ công nhận hành vi phạm tội là hành vi phạm tội có thể bị dẫn độ giữa các Quốc gia đó tùy thuộc vào các điều kiện của Luật của Quốc gia được đề nghị.
4. Nhằm mục đích dẫn độ giữa các Quốc gia ký kết, hành vi phạm tội sẽ được xem như hành vi đó được thực hiện không chỉ ở nơi mà hành vi phạm tội đã được thực hiện mà còn ở trong lãnh thổ của các Quốc gia yêu cầu thiết lập quyền tài phán của mình theo quy định tại khoản 1 của Điều 4.
2. Trong những trường hợp quy định tại khoản trên, bất kỳ Quốc gia ký kết nào mà tầu bay hoặc hành khách hoặc tổ bay của tầu bay đang có mặt tại đó, sẽ tạo điều kiện để hành khách và tổ bay tiếp tục hành trình ngay khi có thể và không chậm trễ trả lại tầu bay và hàng hóa trên tầu bay cho người sở hữu hợp pháp.
2. Những quy định tại khoản 1 Điều này sẽ không ảnh hưởng đến những nghĩa vụ quy định trong bất kỳ điều ước đa phương hay song phương nào điều chỉnh hoặc sẽ điều chỉnh, toàn bộ hay từng phần, sự giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự.
a) các tình tiết hành vi phạm tội;
b) hành động đã thực hiện theo Điều 9;
c) những biện pháp đã thực hiện liên quan đến kẻ phạm tội hoặc kẻ bị tình nghi phạm tội, và, đặc biệt liên quan đến kết quả của bất kỳ thủ tục dẫn độ và thủ tục pháp lý khác.
2. Mỗi Quốc gia có thể, tại thời điểm ký hoặc phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này, tuyên bố rằng mình không bị ràng buộc bởi khoản trên. Các Quốc gia ký kết khác sẽ không ràng buộc bởi khoản trên đối với bất kỳ Quốc gia nào đã đưa ra bảo lưu như vậy.
3. Bất kỳ Quốc gia nào đã có bảo lưu theo khoản trên có thể, tại bất kỳ thời điểm nào, rút bảo lưu đó bằng cách thông báo cho Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế biết.
2. Công ước này phải được các Quốc gia ký kết phê chuẩn. Văn bản phê chuẩn và gia nhập được lưu chiểu tại các Chính phủ Liên Xô; Vương quốc Anh và Bắc Ai Len và Hoa Kỳ, sau đây được gọi là các Chính phủ lưu chiểu.
3. Công ước này sẽ có hiệu lực sau ba mươi ngày kể từ ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn của mười Quốc gia đã tham gia Hội nghị La Hay ký kết Công ước này.
4. Đối với các Quốc gia khác, Công ước này sẽ có hiệu lực vào ngày Công ước này có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều này hoặc ba mươi ngày sau ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn hoặc gia nhập, tính theo ngày nộp lưu chiểu nào muộn hơn.
5. Các Chính phủ lưu chiểu sẽ ngay lập tức thông báo cho các Quốc gia ký kết và gia nhập ngày của mỗi chữ ký, ngày lưu chiểu một văn bản phê chuẩn hoặc gia nhập, ngày có hiệu lực của Công ước này và những thông báo khác.
6. Ngay sau khi có hiệu lực, các Chính phủ lưu chiểu sẽ đăng ký Công ước này theo Điều 102 Hiến chương Liên hợp quốc và Điều 83 Công ước về hàng không dân dụng quốc tế (Chicago, 1944).
2. Việc bãi bỏ có hiệu lực sau sáu tháng kể từ ngày các Chính phủ lưu chiểu nhận được thông báo bãi bỏ Công ước này.
ĐỂ LÀM CHỨNG, các đại diện toàn quyền ký tên dưới đây, được ủy quyền thích hợp của Chính phủ mình, đã ký Công ước này.
Làm tại La hay ngày mười sáu tháng mười hai năm một nghìn chín trăm bảy mươi thành ba bản gốc, mỗi bản gốc được làm bằng bốn thứ tiếng có giá trị như nhau bằng tiếng Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha.
Công ước nhằm ngăn chặn việc chiếm giữ bất hợp pháp tầu bay
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 16/12/1970
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
