Thông tin chung về văn bản:
- Tên văn bản: Công ước 187 về cơ chế tăng cường công tác an toàn vệ sinh lao động.
- Số hiệu, Loại văn bản, Cơ quan ban hành, Ngày ban hành, Ngày áp dụng, Tình trạng hiệu lực: Chưa có thông tin xác định cụ thể từ nguồn dữ liệu được cung cấp.
Giải thích các thuật ngữ cốt lõi (Điều 1):
Công ước 187 đưa ra định nghĩa rõ ràng cho các khái niệm nền tảng nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng giữa các quốc gia thành viên:
- Chính sách quốc gia: Là chính sách quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động và môi trường lao động được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc tại Điều 4 của Công ước về an toàn và vệ sinh lao động năm 1981 (Số 155).
- Hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động (Hệ thống quốc gia): Chỉ cơ sở hạ tầng quy định cơ cấu tổ chức chính để thực hiện chính sách quốc gia và chương trình quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động.
- Chương trình quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động (Chương trình): Là bất kỳ chương trình quốc gia nào xác định rõ các mục tiêu cần đạt được trong một khoảng thời gian xác định, các ưu tiên, phương tiện hoạt động nhằm cải thiện an toàn vệ sinh lao động và các biện pháp để đánh giá sự tiến triển.
- Văn hóa an toàn và sức khỏe phòng ngừa: Là nền văn hóa tôn trọng quyền có một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh ở mọi cấp. Trong đó, chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động chủ động tham gia bảo đảm an toàn thông qua hệ thống các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ được xác định rõ ràng, ưu tiên cao nhất cho nguyên tắc phòng ngừa.
Mục tiêu thúc đẩy của Công ước (Điều 2):
- Mỗi nước thành viên cam kết thúc đẩy việc cải thiện không ngừng công tác an toàn vệ sinh lao động nhằm ngăn chặn tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động. Quá trình này được thực hiện thông qua việc xây dựng, hỏi ý kiến các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động về chính sách quốc gia, hệ thống quốc gia và chương trình quốc gia.
- Thực hiện các bước đi chủ động hướng tới môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua hệ thống quốc gia và chương trình quốc gia phù hợp với các nguyên tắc trong các văn kiện của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) liên quan đến cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động.
- Định kỳ xem xét các biện pháp phù hợp để gia nhập các Công ước liên quan đến an toàn vệ sinh lao động của ILO trên cơ sở tham khảo ý kiến các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động.
Chính sách quốc gia về an toàn vệ sinh lao động (Điều 3):
- Mỗi nước thành viên có nghĩa vụ tăng cường môi trường làm việc an toàn và lành mạnh thông qua việc ban hành và thực thi chính sách quốc gia.
- Tăng cường và thúc đẩy quyền của người lao động được làm việc trong môi trường lao động an toàn và lành mạnh ở tất cả các cấp.
- Chính sách quốc gia phải phù hợp với điều kiện và thực tiễn của đất nước, đồng thời thúc đẩy các nguyên tắc cơ bản bao gồm: đánh giá rủi ro và nguy cơ nghề nghiệp; phòng trừ các rủi ro và nguy cơ ngay tại nguồn; xây dựng văn hóa quốc gia về an toàn và vệ sinh có tính phòng ngừa (bao gồm các hoạt động thông tin, tư vấn và huấn luyện).
Hệ thống quốc gia về an toàn vệ sinh lao động (Điều 4):
Hệ thống quốc gia là bộ khung cơ sở hạ tầng bắt buộc phải được thiết lập, duy trì, phát triển và định kỳ xem xét dưới sự tham vấn của các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động. Hệ thống này bắt buộc phải bao gồm các yếu tố sau:
- Hệ thống luật pháp, các quy định, thỏa ước tập thể (ở những nơi thích hợp) và các văn kiện liên quan đến an toàn vệ sinh lao động.
- Cơ quan chức trách hoặc tổ chức chịu trách nhiệm về an toàn vệ sinh lao động được thành lập theo luật pháp và thực tiễn quốc gia.
- Các cơ chế bảo đảm tuân thủ pháp luật quốc gia, bao gồm cả hệ thống thanh tra lao động.
- Các biện pháp thúc đẩy sự hợp tác ở cấp doanh nghiệp giữa bộ phận quản lý, người lao động và đại diện của họ như một nhân tố cốt lõi của công tác phòng ngừa tại nơi làm việc.
Ngoài ra, tùy theo điều kiện phù hợp, hệ thống quốc gia cần tích hợp thêm các yếu tố bổ trợ:
- Hội đồng tư vấn ba bên cấp quốc gia về an toàn vệ sinh lao động.
- Các dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn và huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động.
- Các dịch vụ vệ sinh lao động theo quy định pháp luật và thực tiễn quốc gia.
- Hoạt động nghiên cứu khoa học về an toàn vệ sinh lao động.
- Cơ chế thu thập, phân tích dữ liệu về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp theo các văn kiện của ILO.
- Sự phối hợp chặt chẽ với hệ thống bảo hiểm hoặc an sinh xã hội liên quan đến bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
- Các cơ chế hỗ trợ cải thiện điều kiện lao động tại các doanh nghiệp siêu nhỏ (vi mô) và trong khu vực kinh tế phi chính thức (không chính thức).
Chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh lao động (Điều 5):
Chương trình quốc gia đóng vai trò là kế hoạch hành động cụ thể để hiện thực hóa chính sách quốc gia:
- Quy trình thực hiện: Phải được xây dựng, thực hiện, kiểm soát, đánh giá và định kỳ xem xét dưới sự tham vấn của các tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động và người lao động.
- Nội dung và mục tiêu của chương trình: Đẩy mạnh văn hóa phòng ngừa cấp quốc gia; bảo vệ người lao động bằng cách loại bỏ hoặc giảm thiểu tối đa các nguy cơ, rủi ro nghề nghiệp; ngăn chặn thương vong và bệnh tật do lao động; xác định rõ các mục tiêu, mục đích và chỉ số phát triển cụ thể.
- Cơ sở xây dựng: Phải dựa trên việc phân tích thực trạng quốc gia về an toàn vệ sinh lao động, bao gồm cả việc đánh giá hệ thống quốc gia hiện hành. Chương trình có thể được hỗ trợ bởi các kế hoạch quốc gia bổ sung để đạt được tiến bộ từng bước.
- Yêu cầu công bố: Chương trình quốc gia phải được công bố rộng rãi nhất có thể, đồng thời phải được các cơ quan chức trách quốc gia cấp cao nhất thông qua và phát động chính thức.
Các điều khoản cuối cùng và thủ tục pháp lý (Điều 6 đến Điều 14):
Các điều khoản cuối cùng quy định về tính pháp lý, hiệu lực và thủ tục hành chính của Công ước:
- Mối quan hệ với các văn kiện khác (Điều 6): Công ước này không sửa đổi hay thay thế các Công ước và khuyến nghị quốc tế khác về lao động.
- Thủ tục gia nhập (Điều 7 & Điều 8): Việc gia nhập chính thức phải được gửi tới Tổng Giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế (ILO) để đăng ký. Công ước chỉ ràng buộc các thành viên đã đăng ký gia nhập và chính thức có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày có ít nhất 2 quốc gia thành viên đăng ký gia nhập. Đối với các quốc gia gia nhập sau, hiệu lực sẽ bắt đầu sau 12 tháng kể từ ngày đăng ký của quốc gia đó.
- Thủ tục bãi ước (Điều 9): Quốc gia thành viên có thể bãi ước sau thời hạn 10 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực lần đầu bằng cách thông báo cho Tổng Giám đốc ILO. Nếu không thực hiện quyền bãi ước trong năm tiếp theo của kỳ hạn 10 năm, quốc gia đó sẽ tiếp tục bị ràng buộc thêm 10 năm nữa và chỉ có thể bãi ước vào năm đầu tiên của kỳ hạn 10 năm kế tiếp.
- Trách nhiệm của Tổng Giám đốc ILO (Điều 10 & Điều 11): Thông báo cho tất cả các thành viên về việc đăng ký gia nhập và bãi ước; lưu ý thời điểm Công ước có hiệu lực; thông báo chi tiết cho Tổng thư ký Liên hợp quốc để đăng ký theo Điều 102 của Hiến chương Liên hợp quốc.
- Báo cáo và sửa đổi (Điều 12 & Điều 13): Hội đồng quản trị Văn phòng Lao động quốc tế sẽ báo cáo Hội nghị toàn thể về việc triển khai Công ước và xem xét việc sửa đổi khi cần thiết. Trường hợp Hội nghị thông qua một Công ước mới sửa đổi Công ước này, việc thông qua Công ước mới sẽ đồng nghĩa với việc bãi ước ngay lập tức Công ước cũ (trừ khi có quy định khác), và Công ước cũ sẽ ngừng tiếp nhận gia nhập mới nhưng vẫn giữ nguyên hiệu lực đối với các nước đã gia nhập mà chưa thông qua Công ước sửa đổi.
- Ngôn ngữ chính thức (Điều 14): Bản tiếng Anh và tiếng Pháp của Công ước có giá trị pháp lý ngang nhau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
VỀ CƠ CHẾ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,
Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ, tại phiên họp lần thứ 95 vào ngày 31 tháng 5 năm 2006,
Nhận thấy tính chất nghiêm trọng về thương tật lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động trên toàn cầu và mức độ cần thiết nhằm có những hành động hơn nữa để làm giảm thương tật lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động, và
Nhắc lại việc bảo vệ người lao động trước những ốm đau, bệnh tật và tổn thương xảy ra do lao động là một trong những mục tiêu của Tổ chức Lao động quốc tế đã được ghi trong Hiến pháp của mình, và
Nhận thấy thương tật lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động có ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất và sự phát triển kinh tế và xã hội, và
Chú ý đến khổ III(g) trong Tuyên bố Phi-la-den-phi quy định Tổ chức Lao động quốc tế có nghĩa vụ chính thức thúc đẩy các quốc gia trong các chương trình thế giới đạt đến sự bảo vệ thích đáng tính mạng và sức khoẻ người lao động trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp, và
Suy xét đến Tuyên bố của Tổ chức Lao động quốc tế về Các Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc và Sự tiếp tục của Tuyên bố, 1998, và
Chú ý đến Công ước An toàn và vệ sinh lao động, 1981 (số 155), Khuyến nghị về An toàn - vệ sinh lao động, 1981 và những văn kiện khác của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động, và
Nhắc lại việc tăng cường an toàn và vệ sinh lao động là một bộ phận của Chương trình Nghị sự việc làm nhân văn cho tất cả của Tổ chức Lao động quốc tế, và
Nhắc lại các kết luận về các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến các hoạt động trong lĩnh vực an toàn và vệ sinh lao động - chiến lược toàn cầu đã được Hội nghị Lao động Quốc tế thông qua tại phiên họp thứ 91 (2003), đặc biệt liên quan đến việc bảo đảm sự ưu tiên cho vấn đề an toàn và vệ sinh lao động trong các chương trình nghị sự của quốc gia, và
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không ngừng thúc đẩy văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa, và
Quyết định thông qua một số điều khoản về an toàn và vệ sinh lao động, là vấn đề thứ tư trong chương trình nghị sự của phiên họp, và
Xác định những điều khoản này cần được thể hiện dưới hình thức một Công ước quốc tế;
thông qua vào ngày 15 tháng 6 năm 2006 Công ước sau, có thể được viện dẫn là Công ước về Cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động, 2006.
I. ĐỊNH NGHĨA
Điều 1
Trong Công ước này:
(a) thuật ngữ “chính sách quốc gia” để nói đến chính sách quốc gia an toàn và vệ sinh lao động và môi trường lao động được xây dựng phù hợp với những nguyên tắc của Điều 4 của Công ước an toàn và vệ sinh lao động, 1981 (số 155);
(b) thuật ngữ “hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động” hoặc “hệ thống quốc gia” để chỉ cơ sở hạ tầng quy định cơ cấu tổ chức chính để thực hiện chính sách quốc gia và chương trình quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động;
(c) thuật ngữ “chương trình quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động” hoặc “chương trình” để chỉ bất kì chương trình quốc gia nào có các mục tiêu cần đạt được trong một khoảng thời gian xác định, các ưu tiên và phương tiện hoạt động được xây dựng nhằm cải thiện an toàn và vệ sinh lao động, và các biện pháp để đánh giá sự tiến triển;
(d) thuật ngữ “văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa” để chỉ văn hoá trong đó quyền về môi trường làm việc an toàn và lành mạnh được tôn trọng ở mọi cấp, ở đó chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động chủ động tham gia vào việc bảo đảm môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua một hệ thống các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ được xác định, và ở đó nguyên tắc phòng ngừa được ưu tiên cao nhất.
II. MỤC TIÊU
Điều 2
1. Mỗi Thành viên gia nhập Công ước này cần thúc đẩy việc cải thiện không ngừng an toàn và vệ sinh lao động để ngăn chặn tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động, thông qua việc xây dựng, hỏi ý kiến các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động về chính sách quốc gia, hệ thống quốc gia và chương trình quốc gia.
2. Mỗi Thành viên phải có các bước đi chủ động để tiến đến môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua một hệ thống quốc gia và chương trình quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động phù hợp với những nguyên tắc trong các văn kiện của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động.
3. Mỗi Thành viên, tham khảo ý kiến các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động, định kỳ xem xét các biện pháp có thể được áp dụng để gia nhập các Công ước có liên quan đến an toàn và vệ sinh lao động của Tổ chức Lao động quốc tế.
III. CHÍNH SÁCH QUỐC GIA
Điều 3
1. Mỗi nước Thành viên phải tăng cường môi trường làm việc an toàn và lành mạnh thông qua chính sách quốc gia.
2. Mỗi nước Thành viên phải tăng cường và thúc đẩy quyền của người lao động được làm việc trong môi trường lao động an toàn và lành mạnh ở tất cả các cấp .
3. Trong chính sách quốc gia, mỗi nước Thành viên, trong điều kiện và thực tiễn của quốc gia và tham khảo ý kiến của tác tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động, phải tăng cường các nguyên tắc cơ bản như đánh giá rủi ro và nguy cơ nghề nghiệp; phòng trừ các rủi ro và nguy cơ ngay tại nguồn; xây dựng văn hoá quốc gia về an toàn và vệ sinh có tính phòng ngừa bao gồm thông tin, tư vấn và huấn luyện.
IV. HỆ THỐNG QUỐC GIA
Điều 4
1. Mỗi nước Thành viên phải thiết lập, duy trì và phát triển không ngừng và định kỳ xem xét hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động, có tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động.
2. Hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động phải bao gồm:
(a) luật và các quy định, các thoả ước tập thể ở những nơi thích hợp, và các văn kiện có liên quan tới an toàn và vệ sinh lao động;
(b) cơ quan chức trách hoặc một tổ chức, hoặc các cơ quan chức trách và các tổ chức chịu trách nhiệm về an toàn và vệ sinh lao động được lập ra theo luật và thực tiễn quốc gia;
(c) các cơ chế để đảm bảo việc tuân thủ luật và các quy định của quốc gia, kể cả các hệ thống thanh tra; và
(d) việc thu xếp để tăng cường, ở cấp doanh nghiệp, sự hợp tác giữa bộ phận quản lý, người lao động và đại diện của họ như là nhân tố chính của các biện pháp phòng ngừa liên quan đến nơi làm việc.
3. Hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động cần bao gồm, ở những nơi phù hợp:
(a) một hội đồng hoặc các hội đồng tư vấn 3 bên cấp quốc gia, tư vấn, xác định về các vấn đề an toàn và vệ sinh lao động;
(b) các dịch vụ thông tin và tư vấn về an toàn và vệ sinh lao động;
(c) việc cung cấp huấn luyện về an toàn và vệ sinh lao động;
(d) các dịch vụ về vệ sinh lao động theo luật và thực tiễn quốc gia;
(e) nghiên cứu an toàn và vệ sinh lao động;
(f) cơ chế về thu thập và phân tích các dữ liệu tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, sử dụng các văn kiện có liên quan của Tổ chức Lao động quốc tế;
(g) có sự hợp tác với các hệ thống bảo hiểm hoặc an sinh xã hội có liên quan bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
(h) các cơ chế hỗ trợ cho việc cải thiện không ngừng điều kiện an toàn và vệ sinh lao động ở cấp doanh nghiệp vi mô và trong khu vực kinh tế không chính thức.
V. CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA
Điều 5
1. Mỗi nước Thành viên phải xây dựng, thực hiện, kiểm soát, đánh giá và định kỳ xem xét chính sách quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động có tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện nhất của người sử dụng lao động và người lao động.
2. Chương trình quốc gia sẽ:
(a) đẩy mạnh sự phát triển văn hoá an toàn và vệ sinh có tính phòng ngừa của quốc gia;
(b) đóng góp vào việc bảo vệ người lao động thông qua việc loại trừ hoặc giảm thiểu tới mức có thể được các nguy cơ và rủi ro liên quan đến lao động, phù hợp với luật và thực tiễn của quốc gia để ngăn chặn tổn thương lao động và bệnh nghề nghiệp và chết do lao động và tăng cường an toàn và sức khoẻ tại nơi làm việc;
(c) được hình thành và xem xét trên cơ sở phân tích tình hình của quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động, kể cả việc phân tích hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động;
(d) bao gồm các mục tiêu, mục đích và các chỉ số phát triển; và
(e) được hỗ trợ, khi có thể, thông qua các chương trình và kế hoạch quốc gia bổ sung sẽ hỗ trợ đạt được một cách tiến triển về môi trường lao động an toàn và lành mạnh.
3. Chương trình quốc gia phải được công bố rộng rãi, càng rộng càng tốt, và cần được các cơ quan chức trách quốc gia cấp cao nhất thông qua và phát động.
VI. CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều 6
Công ước này không sửa lại các Công ước và khuyến nghị quốc tế về lao động.
Điều 7
Việc gia nhập chính thức công ước này phải được truyền đạt tới Tổng Giám đốc của Văn phòng Lao động quốc tế để đăng ký.
Điều 8
1. Công ước này sẽ chỉ ràng buộc những Thành viên của Tổ chức lao động quốc tế đăng ký gia nhập công ước với Tổng Giám đốc.
2. Công ước có hiệu lực sau 12 tháng kể từ thời điểm có 2 nước Thành viên đăng ký gia nhập công ước với Tổng Giám đốc.
3. Sau đó, Công ước này sẽ có hiệu lực với bất kỳ nước Thành viên nào sau 12 tháng kể từ khi việc gia nhập của nước đó được đăng ký.
Điều 9
1. Nước Thành viên gia nhập công ước này có thể bãi ước sau khi kết thúc thời hạn 10 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực lần đầu tiên bằng cách thông báo tới Tổng Giám đốc của Văn phòng Lao động quốc tế để đăng ký.
2. Mỗi nước Thành viên gia nhập Công ước này và không gia nhập, trong năm tiếp theo của kỳ hạn 10 năm được đề cập ở khoản trên mà không sử dụng quyền bãi ước được đưa ra trong Điều này, thì sẽ bị ràng buộc thêm 10 năm nữa, rồi sau đó mới có thể bãi ước Công ước này trong năm đầu tiên của kỳ hạn 10 năm tiếp theo theo các quy định được đưa ra trong Điều này.
Điều 10
1. Tổng Giám đốc của Văn phòng Lao động quốc tế sẽ thông báo tới tất cả các Thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế việc đăng ký gia nhập và bãi ước bằng cách truyền đạt tới các Thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế.
2. Khi thông báo tới các Thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế việc đăng ký gia nhập thứ 2 mà mình đã được truyền đạt, Tổng Giám đốc sẽ lưu ý các Thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế thời điểm mà Công ước sẽ có hiệu lực.
Điều 11
Tổng Giám đốc của Văn phòng Lao động quốc tế sẽ thông báo cho Tổng thư kí của Liên hợp quốc việc đăng ký theo Điều 102 của Hiến chương Liên hợp quốc đầy đủ các chi tiết của tất cả về việc gia nhập và bãi ước được đăng ký.
Điều 12
Mỗi khi xét thấy cần thiết, Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế sẽ đưa ra Hội nghị toàn thể một bản báo cáo về việc triển khai Công ước này và sẽ xem xét có cần đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn thể vấn đề sửa đổi Công ước.
Điều 13
1. Hội nghị toàn thể cần thông qua một Công ước mới sửa đổi Công ước này khi Công ước mới có:
(a) một nước Thành viên thông qua Công ước sửa đổi mới sẽ có hiệu lực liên quan việc bãi ước ngay Công ước này, không kể đến các điều khoản của Điều 9 ở trên, và khi đó Công ước sửa đổi mới sẽ có hiệu lực;
(b) từ thời hạn mà công ước sửa đổi mới có hiệu lực, sẽ dừng việc gia nhập Công ước này đối với các nước Thành viên.
2. Công ước này sẽ vẫn có hiệu lực với hình thức và nội dung của nó đối với các Thành viên gia nhập Công ước khi mà chưa thông qua Công ước sửa đổi.
Điều 14
Bản tiếng Anh và tiếng Pháp của Công ước này có giá trị như nhau.
Công ước 187 về cơ chế tăng cường công tác an toàn vệ sinh lao động
- Số hiệu: 187
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 15/06/2006
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
