Thông tin chung về văn bản:
- Tên văn bản: Công ước 122 năm 1964 về chính sách việc làm.
- Số hiệu, Loại văn bản, Cơ quan ban hành, Ngày ban hành, Ngày áp dụng, Tình trạng hiệu lực: Chưa có thông tin cụ thể trong nguồn dữ liệu trích xuất.
- Mục tiêu và nội dung cốt lõi của chính sách việc làm (Điều 1)
Điều 1 của Công ước đặt ra những nguyên tắc và mục tiêu nền tảng mà các Nước thành viên có nghĩa vụ phải tuyên bố và áp dụng nhằm thúc đẩy một chính sách việc làm tích cực:
- Mục đích tổng quát: Kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, đáp ứng hiệu quả nhu cầu về nhân công, đồng thời giải quyết triệt để các vấn đề về thất nghiệp và thiếu việc làm.
- Yêu cầu cốt lõi: Mỗi Nước thành viên phải cam kết thực hiện một chính sách tích cực nhằm xúc tiến việc làm đầy đủ (toàn dụng lao động), có năng suất cao và được tự do lựa chọn.
- Các mục tiêu cụ thể của chính sách việc làm:
- Bảo đảm cơ hội việc làm cho tất cả những người đang sẵn sàng làm việc và đang chủ động tìm kiếm việc làm.
- Đảm bảo công việc đó phải mang lại năng suất cao nhất có thể.
- Bảo đảm quyền tự do lựa chọn việc làm và tạo cơ hội rộng mở nhất để mỗi người lao động nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng tối đa năng khiếu và kỹ năng của mình trong một công việc thích hợp.
- Cam kết không phân biệt đối xử trong việc làm dựa trên các yếu tố: chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội.
- Nguyên tắc áp dụng: Chính sách việc làm phải được xây dựng dựa trên việc xem xét kỹ lưỡng các giai đoạn và trình độ phát triển kinh tế của từng quốc gia. Đồng thời, phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu việc làm với các mục tiêu kinh tế - xã hội khác, áp dụng bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện và tập quán của mỗi nước.
- Biện pháp hoạch định và rà soát chính sách (Điều 2)
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra tại Điều 1, Điều 2 quy định các Nước thành viên phải thực hiện các biện pháp cụ thể sau đây trong phạm vi điều kiện quốc gia:
- Xác định và rà soát định kỳ: Tiến hành ấn định và duyệt lại một cách đều đặn, có hệ thống các biện pháp cần thiết trong khuôn khổ một chính sách kinh tế và xã hội được phối hợp chặt chẽ.
- Xây dựng chương trình hành động: Chuẩn bị các bước cần thiết để áp dụng các biện pháp đã đề ra, bao gồm cả việc thiết lập và triển khai các chương trình hành động cụ thể khi thích ứng.
- Cơ chế tham vấn và hợp tác với các bên liên quan (Điều 3)
Điều 3 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đối thoại xã hội và sự đồng thuận trong quá trình xây dựng chính sách:
- Đối tượng tham vấn: Các đại diện của những giới có liên quan trực tiếp đến các biện pháp thực hiện, đặc biệt là đại diện của người sử dụng lao động và đại diện của người lao động.
- Mục đích tham vấn: Nhằm tiếp thu đầy đủ kinh nghiệm, ý kiến đóng góp của các bên, đồng thời tranh thủ sự cộng tác chặt chẽ và ủng hộ rộng rãi của họ trong việc soạn thảo, ban hành và triển khai chính sách việc làm trên thực tế.
- Các điều khoản cuối cùng (Điều 4 đến Điều 11)
Các điều khoản từ Điều 4 đến Điều 11 của Công ước bao gồm các quy định cuối cùng theo mẫu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), điều chỉnh các vấn đề mang tính thủ tục pháp lý quốc tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
CÔNG ƯỚC SỐ 122
CÔNG ƯỚC
VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM, 1964
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,
Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 17 tháng 6 năm 1964, trong kỳ họp thứ 48, và
Xét rằng Tuyên ngôn Phi la đen phia thừa nhận nghĩa vụ trọng đại của Tổ chức Lao động quốc tế là phải xúc tiến ở mọi nước trên thế giới những chương trình thích hợp nhằm thực hiện toàn dụng lao động và nâng cao mức sống, và xét rằng Lời nói đầu của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế đã trù định việc đấu tranh chống thất nghiệp và việc bảo đảm tiền lương thoả đáng đủ sống, và
Xét rằng Tuyên ngôn Phi la đen phia, Tổ chức Lao động quốc tế có trách nhiệm phải xem xét tính đến tác động của các chính sách kinh tế và tài chính đối với chính sách việc làm, dưới ánh sáng của mục tiêu cơ bản là “tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, đều có quyền mưu cầu sự tiến bộ về vật chất và sự phát triển về tinh thần của mình trong những điều kiện tự do và phẩm giá, an toàn về kinh tế và bình đẳng về cơ may”, và
Xét rằng Tuyên ngôn chung về nhân quyền đã quy định “mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, và được bảo vệ chống thất nghiệp”, và
Ghi nhận các quy định của các Công ước và khuyến nghị quốc tế về lao động hiện có, trực tiếp liên quan tới chính sách việc làm, và đặc biệt là Công ước và Khuyến nghị về Dịch vụ việc làm, 1948, Khuyến nghị về Hướng nghiệp, 1949, Khuyến nghị về Đào tạo nghề, 1962, Công ước và Khuyến nghị về Sự phân biệt đối xử (việc làm và nghề nghiệp), 1958, và
Xét rằng các văn bản đó phải được đặt trong khuôn khổ rộng lớn của một chương trình quốc tế nhằm mở mang kinh tế, dựa trên cơ sở toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn, và
Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về chính sách việc làm, là vấn đề thuộc điểm thứ tám trong chương trình nghị sự kỳ họp quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,
Thông qua ngày 9 tháng 7 năm 1964, Công ước dưới đây gọi là Công ước về Chính sách việc làm, 1964.
Điều 1
1. Để kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao mức sống, đáp ứng nhu cầu về nhân công và giải quyết vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm, mỗi Nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng, như một mục tiêu thiết yếu, một chính sách tích cực nhằm xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn.
2. Chính sách đó phải nhằm bảo đảm rằng:
a) sẽ có việc làm cho tất cả những người sẵn sàng làm việc và đang kiếm việc làm;
b) rằng việc làm đó càng có năng suất càng tốt;
c) rằng sẽ có sự tự do lựa chọn làm việc và cơ may rộng lớn nhất cho mỗi người lao động để đạt được trình độ tay nghề và sử dụng được trình độ tay nghề và năng khiếu của mình trong một công việc thích hợp, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội.
3. Chính sách đó sẽ phải chú ý đến các giai đoạn và trình độ phát triển kinh tế, cũng như những mối quan hệ giữa các mục tiêu về việc làm với các mục tiêu kinh tế và xã hội khác, và sẽ được áp dụng bằng các phương pháp phù hợp với điều kiện và tập quán quốc gia.
Điều 2
Mọi Nước thành viên đều phải, bằng những phương pháp và trong chừng mực phù hợp với điều kiện của đất nước:
a) ấn định và duyệt lại một cách đều đặn, trong khuôn khổ một chính sách kinh tế và xã hội được phân phối chặt chẽ, những biện pháp phải có để nhằm thực hiện những mục tiêu đã nêu ở Điều 1;
b) chuẩn bị cần thiết để áp dụng các biện pháp đó, kể cả việc ấn định ra các chương trình, khi thích ứng.
Điều 3
Trong việc áp dụng Công ước này, các đại diện của những giới có quan hệ đến các biện pháp sẽ phải thực hiện, và nhất là các đại diện của người sử dụng lao động và người lao động, phải được tham khảo ý kiến về chính sách việc làm, nhằm chú ý đầy đủ đến những kinh nghiệm và ý kiến của họ, và được sự cộng tác của họ vào việc soạn thảo chính sách đó và việc tranh thủ được sự ủng hộ đối với chính sách đó.
Các Điều từ 4 đến 11
Những quy định cuối cùng mẫu.
Công ước 122 năm 1964 về chính sách việc làm
- Số hiệu: 122
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 09/07/1964
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
