Tóm tắt Công ước 108 năm 1958 về giấy căn cước của thuyền viên
Công ước số 108 năm 1958 là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thông qua, nhằm thiết lập các tiêu chuẩn thống nhất về giấy tờ nhận dạng của thuyền viên. Công ước tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển quốc tế, lên bờ tạm thời, quá cảnh và hồi hương của thuyền viên, đồng thời đảm bảo các biện pháp kiểm soát an ninh cần thiết của các quốc gia thành viên.
1. Phạm vi áp dụng của Công ước (Điều 1)
- Công ước áp dụng đối với mọi thuyền viên được thuê mướn dưới bất kỳ chức danh nào trên các tàu biển (trừ tàu chiến) đã được đăng ký tại lãnh thổ của Nước thành viên chịu sự ràng buộc của Công ước này.
- Trong trường hợp có sự nghi ngờ hoặc tranh chấp về việc một đối tượng cụ thể có được coi là thuyền viên hay không, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia liên quan sẽ quyết định sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện cho chủ tàu và thuyền viên.
2. Nghĩa vụ cấp và quản lý Giấy căn cước của thuyền viên (Điều 2 và Điều 3)
- Mỗi Nước thành viên có nghĩa vụ cấp Giấy căn cước của thuyền viên cho công dân nước mình hành nghề thủy thủ khi có yêu cầu. Trong trường hợp đặc biệt không thể cấp giấy căn cước, quốc gia đó có thể cấp hộ chiếu thay thế có ghi rõ người mang hộ chiếu là thủy thủ với giá trị pháp lý tương đương.
- Nước thành viên cũng có thể cấp Giấy căn cước này cho bất kỳ thủy thủ nước ngoài nào được thuê trên tàu đăng ký tại lãnh thổ của mình hoặc đã đăng ký tại văn phòng giới thiệu việc làm thuộc lãnh thổ của mình.
- Giấy căn cước của thuyền viên phải do chính thủy thủ tự bảo quản liên tục và lâu dài.
3. Hình thức và nội dung của Giấy căn cước (Điều 4)
- Yêu cầu về hình thức: Giấy căn cước phải có thiết kế đơn giản, làm bằng chất liệu bền và được trình bày sao cho mọi hành vi tẩy xóa, sửa chữa trái phép đều dễ dàng bị phát hiện.
- Thông tin cơ quan cấp: Phải nêu rõ tên, chức danh của cơ quan cấp, thời gian, địa điểm cấp và tuyên bố chính thức rằng đây là giấy căn cước được cấp theo quy định của Công ước này.
- Thông tin cá nhân bắt buộc: Bao gồm họ tên đầy đủ, ngày và nơi sinh, quốc tịch, đặc điểm nhận dạng, ảnh chân dung và chữ ký (hoặc điểm chỉ nếu không biết chữ) của người được cấp.
- Quy định đối với người nước ngoài: Nếu cấp cho thủy thủ nước ngoài, giấy tờ phải thể hiện một tuyên bố về quốc tịch của người đó, tuy nhiên tuyên bố này không được coi là bằng chứng pháp lý chứng minh quốc tịch.
- Thời hạn và các quy định khác: Mọi giới hạn về thời hạn hiệu lực phải được ghi rõ trên giấy. Hình thức và nội dung chi tiết sẽ do quốc gia cấp quy định sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức chủ tàu và thuyền viên. Luật pháp quốc gia có thể bổ sung thêm các thông tin cần thiết khác.
4. Quyền tái nhập cảnh của thuyền viên (Điều 5)
- Thuyền viên sở hữu Giấy căn cước hợp lệ do cơ quan có thẩm quyền của một lãnh thổ cấp sẽ được quyền tái nhập cảnh (tái chấp nhận) vào chính lãnh thổ đó.
- Quyền tái nhập cảnh này vẫn được duy trì trong thời gian ít nhất là một năm kể từ ngày Giấy căn cước của thuyền viên hết hạn sử dụng.
5. Quy định về nhập cảnh tạm thời và quá cảnh (Điều 6)
- Lên bờ tạm thời: Các Nước thành viên phải cho phép thuyền viên có Giấy căn cước hợp lệ được nhập cảnh tạm thời lên bờ trong thời gian tàu neo đậu tại cảng.
- Nhập cảnh vì mục đích nghiệp vụ: Quốc gia thành viên phải cho phép thuyền viên nhập cảnh khi có nhu cầu lên bờ để chuyển tàu, quá cảnh để gia nhập tàu ở nước khác, hoặc để hồi hương, cũng như các mục đích hợp pháp khác được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Quyền kiểm soát của quốc gia: Trước khi cho phép nhập cảnh, quốc gia thành viên có quyền yêu cầu các bằng chứng thỏa đáng (văn bản từ thuyền viên, chủ tàu, đại lý hoặc lãnh sự) và lịch trình di chuyển. Quốc gia cũng có quyền giới hạn thời gian lưu trú trong một khoảng thời gian hợp lý.
- Quyền chủ quyền: Không một điều khoản nào trong Công ước làm hạn chế quyền của một quốc gia trong việc ngăn cản bất kỳ cá nhân nào nhập cảnh hoặc lưu trú trên lãnh thổ của mình vì lý do an ninh hoặc trật tự công cộng.
6. Các điều khoản thủ tục và hiệu lực thi hành (Điều 7 đến Điều 14)
- Phê chuẩn và đăng ký: Các phê chuẩn chính thức phải được gửi tới Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế (ILO) để đăng ký vào sổ thư ký.
- Hiệu lực thi hành: Công ước chỉ ràng buộc các thành viên đã đăng ký phê chuẩn. Công ước bắt đầu có hiệu lực 12 tháng sau khi có hai Nước thành viên đầu tiên đăng ký phê chuẩn. Đối với các quốc gia phê chuẩn sau, hiệu lực sẽ bắt đầu sau 12 tháng kể từ ngày đăng ký phê chuẩn của nước đó.
- Bãi bỏ công ước: Nước thành viên có thể bãi bỏ Công ước sau khi hết thời hạn 10 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực lần đầu tiên, bằng một thông báo gửi Tổng giám đốc ILO. Việc bãi bỏ có hiệu lực sau 1 năm. Nếu không thực hiện quyền bãi bỏ trong năm đầu tiên sau chu kỳ 10 năm, quốc gia đó sẽ tiếp tục bị ràng buộc thêm một chu kỳ 10 năm tiếp theo.
- Trách nhiệm của Tổng giám đốc ILO: Thông báo cho tất cả các nước thành viên về việc đăng ký phê chuẩn, bãi bỏ và thời điểm Công ước bắt đầu có hiệu lực; đồng thời gửi thông tin tới Tổng thư ký Liên hợp quốc để đăng ký theo Điều 102 Hiến chương Liên hợp quốc.
- Báo cáo và sửa đổi: Hội đồng quản trị Văn phòng Lao động quốc tế sẽ trình báo cáo về việc áp dụng Công ước và xem xét việc đưa nội dung sửa đổi Công ước vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn thể khi cần thiết.
- Hiệu lực của văn bản sửa đổi: Nếu Hội nghị thông qua một Công ước mới sửa đổi Công ước này, việc phê chuẩn Công ước mới của một quốc gia sẽ đồng nghĩa với việc bãi bỏ ngay lập tức Công ước năm 1958 (trừ khi có quy định khác). Công ước năm 1958 sẽ ngừng mở để phê chuẩn khi Công ước sửa đổi có hiệu lực, nhưng vẫn giữ nguyên giá trị đối với các nước đã phê chuẩn mà không phê chuẩn Công ước sửa đổi mới.
- Ngôn ngữ chính thức: Các bản văn bằng tiếng Anh và tiếng Pháp của Công ước này đều có giá trị pháp lý ngang nhau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
CÔNG ƯỚC SỐ 108
CÔNG ƯỚC
VỀ GIẤY CĂN CƯỚC CỦA THUYỀN VIÊN, 1958
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,
Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 29 tháng 4 năm 1958, trong kỳ họp thứ 41, và
Sau khi đã quyết định chấp thuận những đề nghị khác nhau về sự công nhận lẫn nhau hay quốc tế về một giấy căn cước quốc gia của thuyền viên, là vấn đề thuộc điểm thứ chín trong chương trình nghị sự kỳ họp, và
Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,
Thông qua ngày hôm nay, 13 tháng 5 năm 1958, Công ước dưới đây gọi là Công ước về Giấy căn cước của thuyền viên, 1958.
Điều 1
1. Công ước này được áp dụng với mọi thuyền viên được thuê mướn, với bất kỳ chức danh nào, trên bất kỳ con thuyền nào, khác với một tàu chiến, đã được đăng ký trong một lãnh thổ mà Công ước này có hiệu lực, và được sử dụng để đi biển.
2. Trong trường hợp có nghi nghờ về việc liệu một số loại người có được coi là thuyền viên hay không theo mục đích của Công ước này, thì vấn đề phải được cơ quan có thẩm quyền ở mỗi nước giải quyết, sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức cá nhân những chủ tàu và của thuyền viên có liên quan.
Điều 2
1. Mọi Nước thành viên chịu hiệu lực Công ước này, sẽ cấp cho mỗi người của nước mình hành nghề thuỷ thủ, theo yêu cầu của người đó, một giấy căn cước của thuyền viên theo các điều khoản quy định tại Điều 4 ở dưới đây. Tuy nhiên, trong trường hợp không thể cung cấp được một giấy tờ như vậy cho một số loại lao động trên biển, thì Nước thành viên đó có thể cấp, thay vì và thay thế cho giấy tờ này, một hộ chiếu nêu rõ rằng người có hộ chiếu này là một thuỷ thủ và có những hiệu lực như một giấy căn cước của thuyền viên, trong Công ước này.
2. Mọi Nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này có thể cấp một giấy căn cước của thuyền viên cho bất kỳ thuỷ thủ nào khác đã được thuê trên một con tàu đã đăng ký trong lãnh thổ của nước mình hay đã ghi tên trong một văn phòng sắp xếp việc làm của lãnh thổ nước mình, nếu đương sự có yêu cầu.
Điều 3
Giấy căn cước của thuyền viên sẽ do thuỷ thủ tự bảo quản lâu dài.
Điều 4
1. Giấy căn cước của thuyền viên sẽ có hình mẫu đơn giản; nó sẽ được làm bằng một chất liệu bền và được trình bày sao cho mọi sự sửa chữa sẽ dễ dàng phân biệt được.
2. Giấy căn cước của thuyền viên sẽ nêu rõ tên, chức danh của cơ quan cấp, thời gian và địa điểm cấp và sẽ chứa đựng một tuyên bố rằng giấy tờ này là một giấy căn cước của thuyền viên trong Công ước này.
3. Giấy căn cước của thuyền viên sẽ chứa đựng những thông tin sau đây được trích ra từ người mang giấy này:
a) Họ tên đầy đủ (các tên, họ, nếu có);
b). Ngày và nơi sinh;
c). Quốc tịch;
d). Đặc điểm nhận dạng;
c). Ảnh;
f). Chữ ký của người được cấp hay, nếu người được cấp không có khả năng ký, thì điểm chỉ.
4. Nếu một Nước thành viên cấp một giấy căn cước của thuyền viên cho một thuỷ thủ người ngoại quốc, thì cần phải thể hiện trong đó một tuyên bố nào đó về quốc tịch của thuỷ thủ đó. Ngoài ra, một tuyên bố như thế sẽ không bao hàm một bằng chứng chứng minh cho quốc tịch của anh ta.
5. Bất kỳ hạn chế nào về thời hạn có giá trị của một giấy căn cước của thuyền viên sẽ được nêu một cách rõ ràng trên giấy này.
6. Trừ những điều khoản quy định tại các đoạn ở trên, hình thức và nội dung chính xác của giấy căn cước của thuyền viên sẽ được Nước thành viên cấp nó lưu giữ, sau khi tham khảo ý kién của các tổ chức của những chủ tàu và của thuyền viên có liên quan.
7. Luật pháp quốc gia có thể quy định ghi những thông tin bổ sung trong giấy căn cước của thuyền viên.
Điều 5
1. Mọi thuỷ thủ mang một giấy căn cước của thuyền viên có giá trị được cơ quan có thẩm quyền của một lãnh thổ mà Công ước này có hiệu lực cấp cho, sẽ được tái chấp nhận trong lãnh thổ đó.
2. Đương sự cũng phải được chấp nhận trong lãnh thổ quy định tại đoạn trên trong thời gian ít nhất một năm kể từ khi hết thời hạn quy định về giá trị của giấy căn cước của thuyền viên mà người đó được cấp.
Điều 6
1. Mọi Nước thành viên sẽ cho phép bất kỳ thuỷ thủ nào có một giấy căn cước của thuyền viên vào một lãnh thổ mà Công ước này có hiệu lực, khi việc vào lãnh thổ đó được đề xuất với một sự cho phép trên đất liền thời gian tạm thời trong khi tàu đỗ.
2. Nếu giấy căn cước của thuyền viên cho phép nhập cảnh thích hợp, mọi Nước thành viên cũng phải cho phép bất kỳ thuỷ thủ nào có một giấy căn cước của thuyền viên có giá trị vào một lãnh thổ mà Công ước này có hiệu lực, khi việc vào lãnh thổ đó được đương sự đề xuất:
a). Để lên bờ hay chuyển giao sang một tàu khác;
b). Để quá cảnh nhằm mục đích gặp được tàu của mình ở một nước khác hay để được hồi hương;
c). Với bất kỳ mục đích nào được các nhà cầm quyền của nước có liên quan phê duyệt.
3. Trước khi cho phép vào lãnh thổ của mình, đối với một trong những lý do được liệt kê ở đoạn trên, mọi Nước thành viên có thể đòi hỏi một bằng chứng thoả đáng, kể cả một văn bản từ phía thuỷ thủ, chủ tàu, hay của nhân viên liên quan, hay của lãnh sự có liên quan, dành cho thuỷ thủ đó và do đó anh ta cũng sẽ phải xuất trình dự thảo hành trình của mình. Nước thành viên đó cũng có thể giới hạn thời gian lưu lại của thuỷ thủ với một giai đoạn được coi là hợp lý vì mục đích của việc lưu lại.
4. Không một quy định nào của Điều này được phép hiểu là nhằm hạn chế quyền của một Nước thành viên ngăn cản một người nào đó vào hoặc lưu lại trên lãnh thổ của nước mình.
Điều 7
Những phê chuẩn chính thức Công ước này sẽ được thông báo tới Tổng giám đốc Văn phòng lao động quốc tế và qua ông ấy được vào sổ đăng ký.
Điều 8
1. Công ước này sẽ chỉ ràng buộc những Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế mà việc phê chuẩn đã được Tổng giám đốc vào sổ đăng ký.
2. Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực đối với mỗi Nước thành viên sau 12 tháng kể từ ngày những phê chuẩn của hai Nước thành viên được Tổng giám đốc vào sổ đăng ký.
3. Sau đó, Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực đối với mỗi Nước thành viên sau 12 tháng kể từ ngày việc phê chuẩn của Nước thành viên đó được vào sổ đăng ký.
Điều 9
1. Mọi Nước thành viên đã phê chuẩn Công ước này có thể bãi bỏ Công ước, sau khi hết một thời hạn 10 năm kể từ ngày Công ước này có hiệu lực lần đầu tiên, bằng một thông báo tới Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế và qua ông ấy được vào sổ đăng ký. Việc bãi bỏ Công ước sẽ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày được vào sổ đăng ký.
2. Mọi Nước thành viên đã phê chuẩn Công ước này, trong thời hạn một năm kể từ ngày hết thời hạn 10 năm được đề cập ở đoạn trên, mà không sử dụng quyền bãi bỏ được quy định tại Điều này thì sẽ bị ràng buộc với một thời hạn 10 năm tiếp theo, và sau đó mới có thể bãi bỏ Công ước mỗi khi kết thúc thời hạn 10 năm theo những điều kiện được quy định tại Điều này.
Điều 10
1. Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế sẽ thông báo tới tất cả các Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế việc vào sổ đăng ký tất cả những phê chuẩn và bãi bỏ Công ước mà các Nước thành viên đã thông báo tới ông ấy.
2. Bằng cách thông báo tới các Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế việc đăng ký vào sổ sự phê chuẩn Công ước thứ hai được thông báo tới mình, Tổng giám đốc sẽ lưu ý các Nước thành viên của Tổ chức về thời điểm mà Công ước này bắt đầu có hiệu lực.
Điều 11
Với mục tiêu đăng ký theo Điều 102 Hiến chương Liên hợp quốc, Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế sẽ thông báo tới Tổng thư ký Liên hợp quốc những thông tin đầy đủ về những phê chuẩn và bãi bỏ đã được vào sổ đăng ký theo những điều ở trên.
Điều 12
Mỗi khi cho là cần thiết, Hội đồng quản trị Văn phòng Lao động quốc tế sẽ trình bày tại Hội nghị toàn thể một báo cáo về việc áp dụng Công ước này và sẽ xem xét xem liệu có cần ghi vào chương trình nghị sự Hội nghị vấn đề sửa đổi toàn bộ hay một phần Công ước này.
Điều 13
1. Trong trường hợp Hội nghị toàn thể thông qua một Công ước mới về sửa đổi toàn bộ hay một phần Công ước, và trừ khi Công ước mới về sửa đổi quy định khác đi, thì:
a). Việc phê chuẩn Công ước mới về sửa đổi của một Nước thành viên sẽ là đương nhiên, bất chấp Điều 9 trên đây, việc bãi bỏ ngay lập tức Công ước này, ngay khi Công ước mới về sửa đổi bắt đầu có hiệu lực.
b). Kể từ khi Công ước mới về sửa đổi bắt đầu có hiệu lực, Công ước này sẽ ngừng việc mở ra để các Nước thành viên phê chuẩn.
2. Công ước này sẽ nguyên hiệu lực của nó cả về hình thức lẫn nội dung đối với những Nước thành viên nào đã phê chuẩn Công ước này mà không phê chuẩn Công ước mới về sửa đổi.
Điều 14
Các bản tiếng Pháp và tiếng Anh của Công ước này đều có giá trị như nhau.
Công ước 108 năm 1958 về giấy căn cước của thuyền viên
- Số hiệu: 108
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 13/05/1958
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
