Thông tư số 201/2009/TT-BTC ban hành ngày 15 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam thực hiện việc hạch toán, xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ cũng như do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ kế toán.
- Đối tượng và phạm vi áp dụng
- Thông tư này áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.
- Thông tư không áp dụng đối với các doanh nghiệp có hoạt động chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ.
- Trường hợp doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở các Hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ các nước khác, nếu Hiệp định đó có quy định riêng về xử lý chênh lệch tỷ giá khác với Thông tư này thì sẽ thực hiện theo quy định của Hiệp định.
- Các khái niệm và thuật ngữ cơ bản
- Ngoại tệ: Được hiểu là bất kỳ đơn vị tiền tệ nào khác với đơn vị tiền tệ kế toán chính thức của doanh nghiệp.
- Nghiệp vụ ngoại tệ: Là các giao dịch thu, chi bằng ngoại tệ hoặc các giao dịch dùng ngoại tệ để tính giá.
- Tỷ giá hối đoái: Là tỷ giá trao đổi giữa hai loại tiền tệ khác nhau.
- Chênh lệch tỷ giá hối đoái: Là khoản chênh lệch phát sinh từ việc quy đổi cùng một lượng ngoại tệ theo các tỷ giá khác nhau giữa tỷ giá ghi sổ kế toán và tỷ giá tại thời điểm điều chỉnh hoặc thời điểm thực tế phát sinh.
- Nguyên tắc hạch toán và quy đổi tỷ giá
- Doanh nghiệp có phát sinh các nghiệp vụ ngoại tệ phải thực hiện hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái theo đúng chế độ kế toán hiện hành.
- Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam (VND) được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp.
- Đối với những loại ngoại tệ không được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá quy đổi trực tiếp ra Đồng Việt Nam, doanh nghiệp phải thực hiện quy đổi thông qua đồng Đô la Mỹ (USD) theo tỷ giá giao dịch thực tế của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản tại thời điểm phát sinh giao dịch hoặc thời điểm đánh giá lại số dư cuối kỳ.
- Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ
Toàn bộ chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ của hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (đối với doanh nghiệp vừa sản xuất kinh doanh vừa có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) được hạch toán ngay vào chi phí tài chính hoặc doanh thu hoạt động tài chính trong kỳ. Việc xử lý cụ thể được phân chia theo các giai đoạn và trường hợp như sau:
- Giai đoạn đầu tư xây dựng hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập:
- Các khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để đầu tư xây dựng và chênh lệch do đánh giá lại các khoản mục này cuối năm tài chính được phản ánh lũy kế, riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán.
- Khi công trình hoàn thành và đưa tài sản cố định vào sử dụng, khoản chênh lệch tỷ giá này được phân bổ dần vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính. Thời gian phân bổ tối đa không quá 5 năm kể từ khi công trình đi vào hoạt động.
- Giai đoạn doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (kể cả hoạt động đầu tư xây dựng tài sản cố định của doanh nghiệp đang hoạt động) được ghi nhận ngay vào doanh thu hoặc chi phí tài chính trong năm tài chính.
- Đối với nợ phải thu: Chênh lệch tăng (tỷ giá tăng) tính vào thu nhập tài chính; chênh lệch giảm (tỷ giá giảm) tính vào chi phí tài chính.
- Đối với nợ phải trả: Chênh lệch giảm (tỷ giá giảm) tính vào thu nhập tài chính; chênh lệch tăng (tỷ giá tăng) tính vào chi phí tài chính.
- Giai đoạn giải thể, thanh lý doanh nghiệp:
- Đối với nợ phải thu: Chênh lệch tăng tính vào thu nhập thanh lý; chênh lệch giảm tính vào chi phí thanh lý.
- Đối với nợ phải trả: Chênh lệch giảm tính vào thu nhập thanh lý; chênh lệch tăng tính vào chi phí thanh lý.
- Chênh lệch phát sinh do mua, bán ngoại tệ bằng tiền mặt hoặc tiền gửi:
- Khoản chênh lệch tăng được hạch toán vào thu nhập tài chính trong kỳ.
- Khoản chênh lệch giảm được hạch toán vào chi phí tài chính trong kỳ.
- Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ
Tại thời điểm cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp bắt buộc phải quy đổi số dư tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển và các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ ra Đồng Việt Nam. Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh được xử lý theo tính chất ngắn hạn hoặc dài hạn của khoản mục:
- Đối với các khoản mục ngắn hạn (dưới 1 năm):
- Chênh lệch tỷ giá phát sinh do đánh giá lại số dư cuối năm của tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển và các khoản nợ ngắn hạn có gốc ngoại tệ không được hạch toán vào chi phí hay thu nhập trong năm.
- Khoản chênh lệch này được giữ lại trên báo cáo tài chính và đầu năm sau doanh nghiệp thực hiện bút toán ngược lại để xóa số dư.
- Đối với các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm):
- Khoản nợ phải thu dài hạn: Sau khi bù trừ giữa chênh lệch tăng và giảm, phần chênh lệch còn lại nếu tăng thì hạch toán vào thu nhập tài chính, nếu giảm thì hạch toán vào chi phí tài chính trong năm.
- Khoản nợ phải trả dài hạn: Sau khi bù trừ chênh lệch, phần chênh lệch giảm được hạch toán vào thu nhập tài chính. Đối với chênh lệch tăng (làm phát sinh chi phí), doanh nghiệp hạch toán vào chi phí tài chính trong năm và được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Nguyên tắc hoãn phân bổ đối với nợ phải trả dài hạn: Trường hợp việc hạch toán toàn bộ chênh lệch tăng tỷ giá của nợ phải trả dài hạn vào chi phí dẫn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bị lỗ, doanh nghiệp được phép phân bổ một phần khoản chênh lệch này sang các năm sau để tránh bị lỗ. Tuy nhiên, mức hạch toán vào chi phí trong năm hiện tại tối thiểu phải bằng khoản chênh lệch tỷ giá của số dư nợ dài hạn phải trả trong năm đó. Số còn lại được theo dõi và phân bổ dần vào chi phí các năm tiếp theo, thời gian phân bổ tối đa không quá 5 năm.
- Khi thanh lý các khoản nợ dài hạn:
- Khi thực tế thanh lý từng khoản nợ phải thu hoặc nợ phải trả dài hạn, nếu phát sinh chênh lệch giữa tỷ giá thanh toán thực tế và tỷ giá đang ghi sổ, phần chênh lệch này sẽ được xử lý trực tiếp vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính tương tự như quy định đối với doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
- Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký ban hành (ngày 15 tháng 10 năm 2009).
- Thông tư này thay thế hoàn toàn hai văn bản pháp quy trước đây của Bộ Tài chính bao gồm: Thông tư số 44/TC-TCDN ngày 8/7/1997 hướng dẫn xử lý chênh lệch tỷ giá trong doanh nghiệp nhà nước và Thông tư số 38/2001/TT-BTC ngày 05/6/2001 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 44/TC-TCDN.
- Trong quá trình thực hiện, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn, vướng mắc phát sinh cần chủ động phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để được xem xét và hướng dẫn giải quyết cụ thể.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 201/2009/TT-BTC | Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2009 |
HƯỚNG DẪN XỬ LÝ CÁC KHOẢN CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ TRONG DOANH NGHIỆP
- Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008;
- Căn cứ Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
- Căn cứ Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại công văn số 2225/VPCP-KTTH ngày 9/4/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc xử lý chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá trong doanh nghiệp như sau:
Phần A –
Điều 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng:
Thông tư này áp dụng cho doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Thông tư không áp dụng đối với các doanh nghiệp chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ.
Đối với các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở các Hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ các nước, nếu Hiệp định có các quy định về xử lý chênh lệch tỷ giá khác với hướng dẫn tại Thông tư này thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó.
Điều 2. Các từ ngữ sử dụng trong Thông tư này được hiểu như sau:
1. “Ngoại tệ” là đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán của một doanh nghiệp.
2. “Nghiệp vụ ngoại tệ” là chỉ các nghiệp vụ thu chi bằng ngoại tệ và để tính giá.
3. “Tỷ giá hối đoái” là tỷ giá trao đổi giữa hai loại tiền (sau đây gọi tắt là tỷ giá).
4. “Chênh lệch tỷ giá hối đoái” là chênh lệch giữa tỷ giá ghi sổ kế toán với tỷ giá quy đổi tại thời điểm điều chỉnh của cùng một loại ngoại tệ.
Tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam thực hiện theo quy định tại Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp.
Phần B –
Điều 6. Nội dung xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái:
1. Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái của nghiệp vụ ngoại tệ trong kỳ:
1.1. Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập:
Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng và chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính được phản ánh lũy kế, riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán. Khi tài sản cố định hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng được phân bổ dần vào thu nhập hoặc chi phí sản xuất, kinh doanh cụ thể:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng được phân bổ dần vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 5 năm kể từ khi công trình đưa vào hoạt động.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm được phân bổ dần vào chi phí tài chính của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 5 năm kể từ khi công trình đưa vào hoạt động.
1.2. Thời kỳ doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh:
Trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, kể cả việc đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp đang hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ sẽ được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong năm tài chính cụ thể:
a. Đối với nợ phải thu:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào thu nhập tài chính trong kỳ.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm tính vào chi phí tài chính trong kỳ.
b. Đối với nợ phải trả:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm tính vào thu nhập tài chính trong kỳ.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào chi phí tài chính trong kỳ.
1.3. Thời kỳ giải thể, thanh lý doanh nghiệp:
a. Đối với nợ phải thu:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào thu nhập thanh lý doanh nghiệp.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm tính vào chi phí thanh lý doanh nghiệp.
b. Đối với nợ phải trả:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm tính vào thu nhập thanh lý doanh nghiệp.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào chi phí thanh lý doanh nghiệp.
1.4. Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ do việc mua, bán ngoại tệ:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái tăng tính vào thu nhập tài chính trong kỳ.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá hối đoái giảm tính vào chi phí tài chính trong kỳ.
2. Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ:
Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp phải quy đổi số dư tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ ra "đồng Việt Nam” theo tỷ giá quy định tại Điều 3 của Thông tư này. Khoản chênh lệch giữa tỷ giá sau khi quy đổi với tỷ giá đang hạch toán trên sổ kế toán được xử lý như sau:
2.1. Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số dư cuối năm là: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ ngắn hạn (1 năm trở xuống) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài chính thì không hạch toán vào chi phí hoặc thu nhập mà để số dư trên báo cáo tài chính, đầu năm sau ghi bút toán ngược lại để xoá số dư.
2.2. Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số dư cuối năm của các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài chính thì được xử lý như sau:
a. Đối với các khoản nợ phải thu dài hạn:
Đối với các khoản nợ phải thu bằng ngoại tệ, công ty phải đánh giá lại số dư cuối năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch còn lại được xử lý như sau:
- Trường hợp chênh lệch tăng được hạch toán vào thu nhập tài chính trong năm.
- Trường hợp chênh lệch giảm được hạch toán vào chi phí tài chính trong năm.
b. Đối với các khoản nợ phải trả dài hạn:
Đối với khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, công ty phải đánh giá lại số dư cuối năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch còn lại được xử lý như sau:
- Trường hợp chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái thì chênh lệch tỷ giá hạch toán vào chi phí tài chính trong năm và được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh của công ty bị lỗ thì có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau để công ty không bị lỗ nhưng mức hạch toán vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số dư ngoại tệ dài hạn phải trả trong năm đó. Số chênh lệch tỷ giá còn lại sẽ được theo dõi và tiếp tục phân bổ vào chi phí cho các năm sau nhưng tối đa không quá 5 năm.
- Trường hợp chênh lệch giảm thì được hạch toán vào thu nhập tài chính.
Khi thanh lý từng khoản nợ phải thu, nợ phải trả dài hạn, nếu tỷ giá thanh toán thực tế phát sinh cao hơn hoặc thấp hơn tỷ giá đang hạch toán trên sổ sách thì phần chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh được xử lý như quy định tại điểm 1.2 khoản 1 Điều 6 của Thông tư này.
Phần C –
Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để xem xét, giải quyết./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Decree No. 09/2009/ND-CP of February 5, 2009, promulgating the regulation on financial management of state companies and management of state capital invested in other enterprises
- 2Decree No. 124/2008/ND-CP of December 11, 2008, detailing and guiding the implementation of a number of articles of the Law on Enterprise Income Tax.
- 3Decree No. 118/2008/ND-CP of November 27, 2008, defining the functions, tasks, powers and organizational structure of the Ministry of Finance.
- 4Law No. 14/2008/QH12 of June 3, 2008, on enterprise income tax.
- 5Decision No. 15/2006/QD-BTC of March 20, 2006, on issuing enterprise accounting system
Circular No. 201/2009/TT-BTC of October 15, 2009, guiding the handling of exchange rate differences in enterprises
- Số hiệu: 201/2009/TT-BTC
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 15/10/2009
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Trần Văn Hiếu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/11/2009
- Ngày hết hiệu lực: 10/12/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
