Giới thiệu chung về Thông tư số 1034/HTDT-TD
Thông tư số 1034/HTDT-TD được ban hành ngày 01 tháng 08 năm 1992 bởi Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Đây là văn bản pháp lý quan trọng hướng dẫn chi tiết về việc các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam để tái đầu tư, đồng thời quy định các chính sách ưu đãi thuế liên quan nhằm khuyến khích dòng vốn FDI quay trở lại nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đầu mở cửa.
Các điều kiện cốt lõi để được chấp thuận tái đầu tư
Để được phép sử dụng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam để tái đầu tư và hưởng các chính sách ưu đãi, nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Lợi nhuận dùng để tái đầu tư phải là lợi nhuận hợp pháp, được chia sau khi đã nộp đầy đủ thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế lợi tức) và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật.
- Nhà đầu tư phải hoàn thành nghĩa vụ góp đủ vốn pháp định theo giấy phép đầu tư đã được cấp trước đó.
- Vốn tái đầu tư phải được đưa vào các dự án thuộc danh mục khuyến khích đầu tư hoặc dùng để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất của dự án hiện hữu.
- Thời gian sử dụng vốn tái đầu tư vào dự án phải kéo dài liên tục từ 3 năm trở lên.
Quy trình và thủ tục đăng ký tái đầu tư bằng lợi nhuận
Thông tư hướng dẫn chi tiết các bước thực hiện để nhà đầu tư được ghi nhận vốn tái đầu tư hợp pháp:
- Nộp hồ sơ xin phép: Nhà đầu tư gửi hồ sơ lên Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư để xin chấp thuận việc tái đầu tư.
- Thành phần hồ sơ: Bao gồm đơn xin tái đầu tư, nghị quyết của Hội đồng quản trị (đối với doanh nghiệp liên doanh) hoặc quyết định của chủ đầu tư, báo cáo tài chính đã được kiểm toán và xác nhận của cơ quan thuế về số lợi nhuận được chia.
- Điều chỉnh giấy phép: Sau khi được chấp thuận, cơ quan cấp phép sẽ tiến hành điều chỉnh tăng vốn pháp định hoặc vốn đầu tư trên Giấy phép đầu tư hiện tại, hoặc cấp Giấy phép đầu tư mới cho dự án tái đầu tư độc lập.
Chính sách hoàn thuế thu nhập đối với phần lợi nhuận tái đầu tư
Một trong những nội dung quan trọng nhất của Thông tư 1034/HTDT-TD là cơ chế hoàn trả thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm khuyến khích tái đầu tư:
- Nhà đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận tái đầu tư đáp ứng đủ điều kiện sẽ được hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp cho phần lợi nhuận đó.
- Tỷ lệ hoàn thuế được xác định dựa trên tính chất khuyến khích của dự án nhận vốn tái đầu tư (các dự án đặc biệt khuyến khích có thể được hoàn trả lên đến 100% số thuế đã nộp).
- Để nhận lại tiền thuế, nhà đầu tư cần xuất trình Giấy phép tái đầu tư do Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư cấp cùng chứng từ nộp thuế liên quan cho cơ quan tài chính hoặc thuế địa phương để làm thủ tục hoàn trả.
Xử lý vi phạm và thu hồi ưu đãi
Thông tư cũng quy định rõ chế tài xử lý đối với các trường hợp không thực hiện đúng cam kết tái đầu tư:
- Nếu nhà đầu tư rút vốn tái đầu tư trước thời hạn cam kết (dưới 3 năm), toàn bộ số thuế đã được hoàn trả sẽ bị truy thu đầy đủ.
- Mọi hành vi gian lận trong việc khai báo lợi nhuận tái đầu tư để trục lợi chính sách hoàn thuế sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THE STATE COMMITTEE FOR COOPERATION & INVESTMENT |
|
| No.1034/HTDT-TD | |
CIRCULAR
GUIDING THE WAY TO RE-INVEST BY EARNER PROFIT
For the implementation of Article 32 provided by the Law on Foreign Investment in
1. "Re-invest" is to spend the profit earned from investment activities in
+ Increase (or contribute to increase) the legal or invested capital of a project that is on implementation.
+ Or to to a new project in
2. "Re-invest from 2 years up" means the profit spent to invested capital for at least 3 years.
3. A refund of the tax paid on the profit used for a reinvestment from 3 years up shall be made to taxpayer.
...
...
...
a) Certificate (or receipt or a copy thereof certified by a public notary office) issued by tax office and clearly stated the amount of revenue tax that has been paid.
b) Declaration on the profit to be reinvested. If a new project is chosen for reinvestment, it must be a project that has been granted an investment...license by the State Committee for Cooperation and Investment of the earned profit is spent to increase (or contribute to increase) invested or legal capital
5. All benefits start at point 3 shall not be applicable to foreign partner whose legal capital dated in business license or investment license is still unpaid.
6. Within 15 days from the date when a duty file is admitted, decision will be made and informed by the State Committee for Cooperation and Investment to investors. If the reinvestment is admitted to be carried out, a decision will be made then by this committee confirming that investor is qualified to get back the revenue tax amount that has been paid on the reinvested profit.
7. After submitting the said certificate issued by the SCCI to tax office, a refund of revenues tax on the profit to be refund of revenues tax on the profit to be invested will be made by the tax office to foreign partner. A refund of revenue tax shall be complied with procedures stated in Circular No.55-TC/TCT/TT dated October the first 1991 of the Ministry of Finance.
8. All attempt of escaping from revenue tax by the way of the said reinvestment will be penalized under the laws.
FOR THE STATE COMMITTEE FOR COOPERATION AND INVESTMENT
VICE CHAIRMAN
Nguyen Mai
...
...
...
Circular No. 1034/HTDT-TD of August 01, 1992, guiding the way to re-invest by earner profit.
- Số hiệu: 1034/HTDT-TD
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 01/08/1992
- Nơi ban hành: Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư
- Người ký: Nguyễn Mại
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/08/1992
- Ngày hết hiệu lực: 08/02/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
