Giới thiệu khái quát về Chỉ thị 37-CT/TW năm 1994
Chỉ thị 37-CT/TW ban hành ngày 3 tháng 12 năm 1994 bởi Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Văn bản này đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và hành động của Đảng đối với công tác cán bộ nữ, nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới và phát huy tối đa tiềm năng của lực lượng lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá tình hình thực trạng công tác cán bộ nữ
Trước khi đưa ra các giải pháp cụ thể, Chỉ thị đã thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá thực trạng công tác cán bộ nữ thời kỳ bấy giờ với các điểm nổi bật sau:
- Lực lượng lao động nữ và cán bộ nữ có sự phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đổi mới của đất nước.
- Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành vẫn còn thấp và có xu hướng giảm sút ở một số nơi.
- Nhận thức của một số cấp ủy Đảng, chính quyền và người đứng đầu về vai trò, khả năng của phụ nữ còn hạn chế, định kiến giới vẫn còn tồn tại dai dẳng.
- Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ chưa được thực hiện một cách đồng bộ, thiếu tính chiến lược lâu dài.
Mục tiêu cốt lõi của Chỉ thị 37-CT/TW
Chỉ thị xác định rõ các mục tiêu chiến lược nhằm nâng cao vị thế và tỷ lệ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị:
- Tăng nhanh tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở một cách bền vững.
- Đảm bảo cơ cấu cán bộ nữ hợp lý trong các cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao, năng lực thực tiễn đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm được đề ra
Để đạt được các mục tiêu trên, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể tập trung thực hiện các nhóm giải pháp đồng bộ sau:
1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về công tác cán bộ nữ
- Tuyên truyền sâu rộng nhằm xóa bỏ tư tưởng phong kiến, định kiến hẹp hòi, đánh giá thấp vai trò của phụ nữ.
- Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Coi công tác cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược cán bộ chung của Đảng.
2. Đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ
- Các cấp ủy Đảng phải chủ động xây dựng quy hoạch cán bộ nữ dài hạn, đảm bảo tính kế thừa và phát triển liên tục.
- Ưu tiên cử cán bộ nữ đi đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ.
- Có phương thức đào tạo linh hoạt, phù hợp với đặc điểm giới tính, hoàn cảnh gia đình và điều kiện nuôi con nhỏ của phụ nữ.
3. Thực hiện bố trí, sử dụng và đề bạt cán bộ nữ hợp lý
- Mạnh dạn bố trí cán bộ nữ giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể khi có đủ tiêu chuẩn.
- Khắc phục tình trạng khắt khe, cầu toàn trong việc đánh giá và đề bạt cán bộ nữ.
- Đảm bảo tỷ lệ nữ thích đáng trong các cơ quan lãnh đạo tập thể của Đảng và Nhà nước ở mọi cấp độ.
4. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và hỗ trợ đối với cán bộ nữ
- Nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung các chính sách bảo hiểm xã hội, chế độ thai sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với lao động nữ.
- Có chính sách hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ nữ khi tham gia học tập, nghiên cứu khoa học.
- Xem xét điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu một cách linh hoạt đối với những cán bộ nữ có trình độ cao, có năng lực quản lý xuất sắc nhằm tránh lãng phí nguồn nhân lực chất lượng cao.
5. Phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
- Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp cần chủ động phát hiện, giới thiệu những nhân tố nữ ưu tú cho Đảng và Nhà nước xem xét, quy hoạch và bổ nhiệm.
- Đổi mới phương thức hoạt động của Hội để thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ tham gia, tạo môi trường rèn luyện thực tiễn phong phú cho cán bộ nữ.
- Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với các chính sách liên quan đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
Ý nghĩa lịch sử và giá trị thực tiễn của Chỉ thị
Chỉ thị 37-CT/TW năm 1994 là kim chỉ nam cho công tác cán bộ nữ trong nhiều thập kỷ qua. Việc triển khai nghiêm túc chỉ thị này đã tạo ra những chuyển biến tích cực, giúp nâng cao đáng kể tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, nữ lãnh đạo tại các bộ, ngành và địa phương, góp phần khẳng định vị thế của phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BAN BÍ THƯ TRUNG ƯƠNG | ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM |
| Số: 37-CT/TW | Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 1994 |
CHỈ THỊ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ NỮ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Thực tiễn 10 năm thi hành Chỉ thị 44-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ” đã xác nhận sự trưởng thành và đóng góp lớn lao của đội ngũ cán bộ nữ. Cán bộ nữ trong các ngành, các cấp tỏ rõ năng lực và phẩm chất chính trị, đảm đương tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.
Song, trong các cơ quan lãnh đạo và quản lý, đội ngũ cán bộ nữ còn chiếm tỷ lệ thấp và đang có chiều hướng giảm sút. Tình hình trên, trước hết do cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các ngành chưa nhận thức đúng vai trò, khả năng của cán bộ nữ, thiếu những chính sách và biện pháp cụ thể trong việc chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng và đề bạt cán bộ nữ, có nơi tư tưởng coi thường cán bộ nữ còn nặng nề. Việc chỉ đạo công tác cán bộ nữ thiếu chặt chẽ, chưa thường xuyên. Một bộ phận cán bộ nữ còn an phận, thiếu ý chí vươn lên.
Sự nghiệp đổi mới của đất nước đang tạo ra môi trường mới cho sự phát triển tiềm năng của lao động nữ và cán bộ nữ.
Để làm tốt công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, Ban Bí thư yêu cầu các cấp, các ngành làm tốt một số việc dưới đây:
1- Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ nữ
Cần làm cho cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12-7-1993 của Bộ chính trị về “Tăng cường và đổi mới công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội là yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ.
Đồng thời cần nhận rõ những đặc điểm riêng của cán bộ nữ, tạo nên sự thông cảm, giúp đỡ thiết thực để cán bộ nữ vươn lên, kể cả sự hỗ trợ và khích lệ từ mỗi gia đình cán bộ nữ.
Bản thân cán bộ nữ cần chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, nâng cao phẩm chất và trình độ mọi mặt, tự khẳng định mình trong công tác, biết kết hợp hài hòa giữa công việc gia đình và công tác xã hội.
2- Có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ
Cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng. Trước mắt, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở phải có quy hoạch cán bộ nữ.
Sớm xác định những ngành, những lĩnh vực phù hợp, phát huy được thế mạnh của phụ nữ, những chức danh lãnh đạo và quản lý cần có cán bộ nữ, từ đó có kế hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt và sử dụng.
Chú ý phát hiện tài năng trẻ và có quy trình đào tạo, bồi dưỡng thích hợp để sớm đề bạt, sử dụng.
Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học – kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước…., cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa
Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ nữ một cách thỏa đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới. Có những hình thức đào tạo, bồi dưỡng thích hợp với đặc điểm của cán bộ nữ như mở tại cơ sở, vùng, miền……, phân chia chương trình đào tạo thành những khóa ngắn ngày, tạo điều kiện sinh hoạt thuận lợi cho học viên nữ trong thời gian học tập.
3- Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các ngành
Việc sử dụng, đề bạt cán bộ nữ phải dựa trên cơ sở quy hoạch, được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn theo chức danh công tác.
Trên cơ sở rà soát đội ngũ cán bộ nữ hiện có, có biện pháp điều chỉnh, bổ sung cán bộ nữ vào những vị trí thích hợp, phù hợp với yêu cầu và năng lực của cán bộ.
Phải tăng thêm cán bộ nữ ở các cấp từ cơ sở đến trung ương, kể cả cán bộ ngoài Đảng. Cụ thể :
- Tăng cấp ủy viên nữ, ủy viên thường vụ nữ trong các cấp ủy đảng.
- Tăng cán bộ nữ trong các cấp chính quyền, các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), trong các đoàn thể và Mặt trận Tổ quốc.
- Những ngành đông nữ, những xí nghiệp quốc doanh đông nữ (30% trở lên) và những ngành mà chức năng, nhiệm vụ có liên quan nhiều đến vấn đề phụ nữ, các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ, kế hoạch, chính sách, v.v… phải có tỷ lệ cán bộ nữ tương xứng và phải có cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở các cấp.
4- Xây dựng chính sách tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển
Xây dựng chính sách cán bộ nữ tạo điều kiện cho chị em vừa hoàn thành tốt chức năng xã hội, vừa thực hiện tốt chức năng người mẹ.
Cần có chế độ trợ cấp cho cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng khi còn nuôi con nhỏ ở độ tuổi nhà trẻ. Có chính sách khuyến khích đối với các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều lao động nữ.
Đặc biệt chú ý chính sách khuyến khích tài năng nữ trong các trường học, trong mọi lĩnh vực hoạt động. Những nữ khoa học có tài, những cán bộ nữ quản lý giỏi cần được khuyến khích sử dụng, khi cần thiết có thể nghỉ hưu ở tuổi 60 như nam giới.
Cần khuyến khích, huy động các lực lượng xã hội vào những hoạt động dịch vụ đời sống, chăm lo sức khỏe, chăm sóc trẻ nhỏ, giảm nhẹ lao động gia đình để phụ nữ có điều kiện nghỉ ngơi, giải trí, học tập nâng cao trình độ, đảm nhiệm tốt công việc được giao.
5- Đẩy mạnh công tác phát triển đảng trong phụ nữ
Các tổ chức đảng thường xuyên tuyên truyền, bồi dưỡng, phát triển đảng viên trong nữ thanh niên, nữ lao động trong các ngành, các cấp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, đặc biệt ở các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo. Coi trọng việc phát triển đảng trong số phụ nữ có triển vọng đưa vào quy hoạch cán bộ.
Cần nắm vững đặc điểm của đảng viên nữ để phân công tác hợp lý. Những nơi có tỷ lệ đảng viên nữ ra khỏi Đảng cao, cần phần tích nguyên nhân và có biện pháp khắc phục.
6- Tổ chức chỉ đạo thực hiện
Các cấp ủy đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn và lãnh đạo các ngành cần quán triệt chỉ thị này, chỉ đạo phổ biến chỉ thị tới cán bộ, đảng viên của các cơ sở đảng. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện chỉ thị có kết quả.
Trong các cơ quan làm công tác tổ chức – cán bộ các cấp cần có bộ phận chuyên trách công tác cán bộ nữ để giúp cấp ủy làm tốt công tác này.
Các ban cán sự đảng có nhiệm vụ chỉ đạo các cơ quan nhà nước để thể chế hóa những chủ trương đề ra trong chỉ thị này thành các chính sách, quy định và hướng dẫn thi hành cụ thể.
Ban Tổ chức Đảng, Ban Dân vận và Đảng đoàn Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp có trách nhiệm giúp cấp ủy hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này.
|
| T.M BAN BÍ THƯ |
- 1Quyết định 822/1997/QĐ-TTg năm 1997 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 do Thủ tướng chính phủ ban hành
- 2Thông báo 117/TB-VPCP về ý kiến kết luận của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm tại buổi làm việc với Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1Nghị quyết số 04-NQ/TW về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới do Bộ Chính trị ban hành
- 2Quyết định 822/1997/QĐ-TTg năm 1997 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 do Thủ tướng chính phủ ban hành
- 3Thông báo 117/TB-VPCP về ý kiến kết luận của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm tại buổi làm việc với Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
Chỉ thị 37-CT/TW năm 1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới do Ban Bí thư Trung ương ban hành
- Số hiệu: 37-CT/TW
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 16/05/1994
- Nơi ban hành: Ban Chấp hành Trung ương
- Người ký: Đào Duy Tùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/05/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
