Giới thiệu về Chỉ thị 123-TTg năm 1960
Chỉ thị 123-TTg được ban hành trong bối cảnh miền Bắc nước ta đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện kế hoạch nhà nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Văn bản này tập trung vào việc chấn chỉnh công tác quản lý, phân phối và sử dụng xe đạp công tại các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị nhà nước nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tài sản công.
Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Chỉ thị 123-TTg về vấn đề xe đạp công.
- Số hiệu: 123-TTg.
- Năm ban hành: 1960.
- Cơ quan ban hành: Thủ tướng Chính phủ.
- Phạm vi điều chỉnh: Quản lý, cấp phát, bảo dưỡng và sử dụng xe đạp thuộc sở hữu nhà nước phục vụ công tác chuyên môn.
Nội dung cốt lõi của Chỉ thị (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Dựa trên tinh thần của Chỉ thị 123-TTg, các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 tập trung giải quyết các vấn đề trọng tâm sau:
- Xác định tiêu chuẩn và đối tượng được cấp phát xe đạp công: Quy định chi tiết về các đối tượng cán bộ, công chức, nhân viên giao tế, thông tin liên lạc hoặc các bộ phận thường xuyên phải di chuyển ngoài trụ sở được phân phối xe đạp công. Việc cấp phát phải căn cứ vào nhu cầu công việc thực tế, tránh tình trạng cấp phát tràn lan, không đúng đối tượng gây lãng phí ngân sách nhà nước.
- Nguyên tắc sử dụng xe đạp công đúng mục đích: Nghiêm cấm triệt để việc sử dụng xe đạp công vào mục đích cá nhân hoặc việc riêng ngoài giờ hành chính. Xe đạp công chỉ được sử dụng để giải quyết các nhiệm vụ chuyên môn, công vụ được giao. Cán bộ được giao xe phải có trách nhiệm bảo quản và sử dụng đúng lộ trình, nhiệm vụ.
- Chế độ bảo dưỡng, sửa chữa và quy trách nhiệm vật chất: Quy định rõ trách nhiệm của cá nhân được giao giữ xe trong việc bảo trì, bảo dưỡng định kỳ. Trong trường hợp xảy ra mất mát, hư hỏng do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc sử dụng sai quy định, cá nhân đó phải chịu trách nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại vật chất tương ứng theo quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm quản lý của thủ trưởng đơn vị: Giao nhiệm vụ cho người đứng đầu các cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện phải lập sổ sách theo dõi chặt chẽ số lượng xe đạp công hiện có. Định kỳ hàng quý hoặc hàng năm phải tiến hành kiểm kê, đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng xe, báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên để có phương án điều chuyển hoặc thanh lý phù hợp.
Ý nghĩa và giá trị thực tiễn của văn bản
Chỉ thị 123-TTg năm 1960 là một trong những văn bản pháp lý đặt nền móng cho công tác quản lý tài sản công một cách khoa học và tiết kiệm tại Việt Nam. Trong thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, việc siết chặt quản lý từ những phương tiện di chuyển cơ bản như xe đạp công đã thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong việc xây dựng nếp sống văn minh, liêm chính, bảo vệ của công trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT |
| Số: 123-TTg | Hà Nội, ngày 31 tháng 05 năm 1960 |
CHỈ THỊ
VỀ VẤN ĐỀ XE ĐẠP CÔNG
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
| Kính gửi | - Các Bộ, |
Để bảo đảm phương tiện công tác cho cán bộ, nhân viên, đồng thời cũng nhằm giảm bớt chi phí về mua sắm, sửa chữa xe đạp công, giữa năm 1958, Thủ tướng phủ đã đồng ý nguyên tắc chủ trương bán xe đạp công cho cán bộ, nhân viên.
Cho tới nay, có khoảng 50 đơn vị lớn nhỏ ở trung ương và gần 20 tỉnh, thành phố đã hoặc đang thực hiện việc bán xe đạp.
Căn cứ báo cáo của những cơ quan đã bán xe đạp công và dư luận chung thì chủ trương bán xe đạp công cho cán bộ, nhân viên là đúng, không có trở ngại đến công tác, được cán bộ, nhân viên hoan nghênh, tiết kiệm vật tư và tài chính cho Nhà nước, bớt được một số người trông coi xe.
Vì vậy, Hội đồng Chính phủ, trong phiên họp Thường vụ ngày 18 tháng 5 năm 1960, đã quyết định:
Ở mỗi cơ quan, xí nghiệp, chỉ để lại một ít xe đạp công để dùng cho các bộ phận công tác thật cần thiết như bộ phận giao thông hỏa tốc, bộ phận tiếp phẩm ở các nhà ăn tập thể. Cơ quan, xí nghiệp nào xét có điều kiện không cần để lại xe đạp công thì thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp quyết định.
Thể thức bán chịu xe đạp công, thể thức cho vay tiền do Bộ Tài chính quy định, sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ và Bộ Lao động.
Mậu dịch quốc doanh cần ưu tiên cung cấp xe đạp cho số cán bộ, nhân viên được Nhà nước cho vay tiền để mua xe đạp.
3. Về phụ cấp hao mòn xe đạp tư, chấp hành đúng Thông tư số 4-TC/HCP/P1 ngày 11-2-1960 của Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn thi hành chỉ thị này.
Các cơ quan, xí nghiệp cần đặt kế hoạch thi hành ngay chỉ thị này.
|
| K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Thông tư 290-TC/TVHC-1 năm 1962 về việc trả phụ cấp hao mòn xe đạp, mô tô, mô-bi-lét tư dùng đi công tác do Bộ Tài Chính ban hành
- 2Thông tư 25-TC/HCP/P1 năm 1960 hướng dẫn thi hành Chỉ thị 123-TTg về việc bỏ chế độ xe đạp công ở cơ quan do Bộ Tài chính ban hành
- 3Thông tư 735-TC/HCP/P1 năm 1960 sửa đổi mức tối đa về phụ cấp hao mòn xe đạp tư đi công tác do Bộ Tài Chính ban hành
Chỉ thị 123-TTg năm 1960 về vấn đề xe đạp công do
- Số hiệu: 123-TTg
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 31/05/1960
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 25
- Ngày hiệu lực: 15/06/1960
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
