Chỉ thị 06-CT/NH4 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho việc hình thành, tổ chức và triển khai hoạt động kiểm toán nội bộ trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng Nhà nước. Dưới đây là tóm tắt chi tiết nội dung phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của Chỉ thị này:
Mục tiêu và sự cần thiết của công tác kiểm toán nội bộ (Điều 1)
Điều 1 của Chỉ thị khẳng định việc thiết lập hệ thống kiểm toán nội bộ là yêu cầu cấp bách nhằm tăng cường năng lực quản lý, giám sát và bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng trong giai đoạn đổi mới. Các mục tiêu cốt lõi bao gồm:
- Bảo vệ tài sản và nguồn vốn: Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho tài sản, tiền tệ và các nguồn lực tài chính do Ngân hàng Nhà nước quản lý và lưu thông.
- Đánh giá tính tuân thủ: Kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, chính sách tiền tệ, tín dụng và các quy định pháp luật của Nhà nước trong toàn hệ thống.
- Phòng ngừa và hạn chế rủi ro: Phát hiện kịp thời các sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản lý để kiến nghị biện pháp khắc phục, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và thất thoát tài sản.
Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ (Điều 2)
Điều 2 quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của lực lượng kiểm toán nội bộ từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo tính thống nhất và độc lập tác nghiệp:
- Tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương: Thành lập Vụ Kiểm toán nội bộ (hoặc tổ chức kiểm toán chuyên trách) trực thuộc Thống đốc, chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát toàn bộ hoạt động kiểm toán trong ngành.
- Tại Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố: Thiết lập bộ phận hoặc bố trí cán bộ kiểm toán nội bộ chuyên trách hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Chi nhánh và sự hướng dẫn nghiệp vụ của Vụ Kiểm toán nội bộ Trung ương.
- Nguyên tắc độc lập: Hoạt động kiểm toán nội bộ phải độc lập với các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn khác, đảm bảo tính khách quan tối đa trong quá trình đánh giá và báo cáo.
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm toán viên (Điều 3)
Điều 3 làm rõ phạm vi hoạt động và quyền hạn pháp lý của lực lượng kiểm toán nội bộ khi thực thi nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ kiểm toán toàn diện: Thực hiện kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ đối với tất cả các đơn vị, vụ, cục và chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Nhà nước.
- Quyền tiếp cận thông tin: Kiểm toán viên có quyền yêu cầu các đơn vị được kiểm toán cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ, tài liệu, số liệu kế toán và các thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán.
- Quyền kiến nghị xử lý: Đề xuất với Thống đốc hoặc Giám đốc chi nhánh các biện pháp xử lý đối với tập thể, cá nhân có hành vi vi phạm, đồng thời kiến nghị sửa đổi các quy chế nghiệp vụ không còn phù hợp.
Kế hoạch triển khai và công tác đào tạo cán bộ kiểm toán (Điều 4)
Điều 4 tập trung vào các giải pháp thực tiễn để đưa hệ thống kiểm toán nội bộ đi vào hoạt động có hiệu quả ngay từ giai đoạn đầu:
- Xây dựng quy trình nghiệp vụ: Giao Vụ Kiểm toán nội bộ chủ trì soạn thảo các quy chế, quy trình, cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán thống nhất trong toàn hệ thống.
- Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực: Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn chuyên sâu về kỹ năng kiểm toán, kế toán ngân hàng và phân tích tài chính cho đội ngũ kiểm toán viên.
- Phối hợp liên ngành: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận kiểm toán nội bộ với các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng và kiểm toán nhà nước để tránh chồng chéo, nâng cao hiệu quả giám sát chung.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 06-CT/NH4 | Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 1995 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TỔ CHỨC, TRIỂN KHAI NỘI DUNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Sau 4 năm thành lập, hoạt động của hệ thống kiểm soát đã từng bước trưởng thành đạt được những kết quả đáng kể. Với các hình thức giám sát, kiểm soát và kiểm tra thích hợp, đã góp phần đưa hoạt động tài chính, kế toán, quản lý kho, quỹ ... đi dần vào nề nếp, bước đầu đạt được mục đích hàng đầu của hoạt động kiểm soát là bảo đảm an toán tài sản, ngăn chặn rủi ro, thất thoát.
Về tổ chức, hệ thống kiểm soát ở Ngân hàng Trung ương và các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố đã được sắp xếp tổ chức lại, bổ sung thêm đội ngũ kiểm soát viên có chất lượng, đẩy mạnh việc đào tạo bồi dưỡng các mặt nghiệp vụ và tin học, thực hiện tiếp tục việc phong cấp cho kiểm soát viên, kiểm soát trưởng, tăng cường trang bị phương tiện làm việc cho hệ thống kiểm soát. Hệ thống các cơ chế, quy chế, quy trình hoạt động và kiểm tra giám sát ngày càng hoàn thiện.
Tuy nhiên, hoạt động kiểm soát hầu như mới tập trung vào giám sát, kiểm tra công tác an toàn kho quỹ, chi tiêu tài chính, kế toán, an toàn tài sản mà chưa đi sâu vào kiểm tra, đánh giá việc triển khai, thực hiện các chức năng nhiệm vụ được giao của các Vụ, Cục, Phòng ban, cũng như đánh giá việc chấp hành các Quyết định, Chỉ thị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, chưa đánh giá được các hoạt động nghiệp vụ và các quy trình nghiệp vụ đó được xây dựng và thực hiện như thế nào, nhất là đối với các hoạt động dễ dẫn đến rủi ro trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước.
Để thực hiện chủ trương của Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và phát huy đầy đủ vai trò kiểm toán nội bộ của hệ thống kiểm soát, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chỉ thị cho Vụ Tổng kiểm soát, các Vụ, Cục đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, tỉnh, thành phố phải làm tốt các việc sau :
- Vụ Tổng kiểm soát tổ chức, triển khai ngay nội dung kiểm toán nội bộ trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ được giao, việc chấp hành các chỉ thị, quyết định của Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước của các Vụ, Cục và các đơn vị trực thuộc, đưa ra các kiến nghị để khắc phục tồn tại, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Vụ, Cục.
- Các Vụ, cục, đơn vị trực thuộc được kiểm toán có trách nhiệm lập báo cáo việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ được giao, mức độ an toán của các quy trình nghiệp vụ, hiệu quả hoạt động của các đơn vị theo yêu cầu của Vụ Tổng kiểm soát, tạo điều kiện vật chất, con người, cung cấp hồ sơ tài liệu cần thiết để việc kiểm toán ở đơn vị đạt kết quả tốt, đưa nội dung này trở thành hoạt động thường xuyên trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước.
- Vụ Tổng kiểm soát cũng tiến hành ngay việc kiểm toán nội bộ, đánh giá hoạt động của các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, đánh giá kết quả hoạt động của các phòng, tổ toàn đơn vị và sự điều hành của lãnh đạo các Chi nhánh.
Tổng kiểm soát, Thủ trưởng các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm thi hành Chỉ thị này.
|
| THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC |
- 1Thông tư 11/2010/TT-NHNN bãi bỏ Chỉ thị 04/2003/CT-NHNN về tăng cường công tác kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 2Thông tư 16/2011/TT-NHNN quy định về kiểm soát, kiểm toán nội bộ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 3Thông tư 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 4Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 5Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1Thông tư 11/2010/TT-NHNN bãi bỏ Chỉ thị 04/2003/CT-NHNN về tăng cường công tác kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 2Thông tư 16/2011/TT-NHNN quy định về kiểm soát, kiểm toán nội bộ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 3Thông tư 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Chỉ thị 06-CT/NH4 năm 1995 về tổ chức, triển khai nội dung kiểm toán nội bộ trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước
- Số hiệu: 06-CT/NH4
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 07/07/1995
- Nơi ban hành: Ngân hàng Nhà nước
- Người ký: Cao Sỹ Kiêm
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/07/1995
- Ngày hết hiệu lực: 16/10/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
