Ngày 29 tháng 01 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 04/2008/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo. Chỉ thị này được ban hành nhằm đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo, đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Phạm vi áp dụng của Chỉ thị bao gồm toàn bộ các chương trình, dự án giảm nghèo trên phạm vi cả nước. Đối tượng tác động trực tiếp là các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội, cùng các đối tượng thụ hưởng là hộ nghèo, người nghèo, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
Đánh giá tình hình thực hiện công tác giảm nghèo
Chỉ thị thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong giai đoạn trước, bao gồm:
- Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo khi gặp thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động kinh tế là rất lớn.
- Tốc độ giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày càng bị nới rộng.
- Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong việc lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội với chương trình giảm nghèo còn thiếu chặt chẽ và hiệu quả chưa cao.
- Một bộ phận người nghèo vẫn còn tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tự vươn lên thoát nghèo.
Nhiệm vụ trọng tâm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ
Để khắc phục các hạn chế nêu trên, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị chủ chốt:
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, đánh giá hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị ban hành chính sách mới phù hợp với thực tế. Tập trung xây dựng và triển khai Đề án hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước. Tổ chức hệ thống giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo một cách chặt chẽ.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính cân đối, bố trí và hướng dẫn việc phân bổ nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cho các chương trình, dự án giảm nghèo. Đẩy mạnh việc lồng ghép các mục tiêu giảm nghèo vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm của cả nước cũng như từng địa phương.
- Bộ Tài chính: Đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn sự nghiệp từ ngân sách trung ương để thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo đã được phê duyệt. Chủ trì hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí thực hiện các chương trình giảm nghèo, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
- Ủy ban Dân tộc: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (Chương trình 135 giai đoạn II). Tập trung giải quyết căn bản đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đời sống khó khăn.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao kỹ thuật sản xuất cho người nghèo. Xây dựng các mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp phù hợp với trình độ của người nghèo ở từng vùng, miền để họ tự tạo việc làm và tăng thu nhập.
- Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế (thẻ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh miễn giảm) và giáo dục (miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh, sinh viên nghèo).
Trách nhiệm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện các nội dung sau:
- Kiện toàn Ban chỉ đạo các chương trình giảm nghèo ở các cấp, phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng thành viên, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở, đặc biệt là cấp xã.
- Xây dựng kế hoạch giảm nghèo cụ thể, sát với thực tế của địa phương; chủ động huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tại chỗ, kết hợp với nguồn hỗ trợ từ ngân sách trung ương và các nguồn tài trợ hợp pháp khác.
- Thực hiện công khai, dân chủ trong việc bình xét hộ nghèo, bảo đảm đúng đối tượng, không bỏ sót và không để xảy ra tiêu cực.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo trên địa bàn; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, lãng phí, thất thoát vốn và tài sản của chương trình.
Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
Chỉ thị 04/2008/CT-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện Chỉ thị.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/2008/CT-TTg | Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2008 |
VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO
Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Với sự tham gia hưởng ứng tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức quốc tế và đông đảo quần chúng nhân dân, trong giai đoạn 2001 - 2005 , thành tựu về xoá đói, giảm nghèo đã đạt dược kết quả tốt, cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, góp phần thực hiện phát triển ổn định và bền vững. Để phát huy các thành quả xoá đói, giảm nghèo đạt được, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi (Chương trình 135 giai đoạn II). Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh từ 17% năm 2000 xuống còn dưới 7% năm 2005; theo chuẩn mới tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22% vào đầu năm 2006, đến nay còn khoảng 14,87%; bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, công tác giảm nghèo đang còn nhiều khó khăn, thách thức, kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, tỷ lệ tái nghèo hàng năm còn cao, nhất là trong Điều kiện khi có thiên tai, bão lụt xảy ra, khả năng tự ứng cứu và phục hồi tại chỗ rất hạn chế; hàng vạn hộ nghèo còn đang phải sống trong nhà ở dột nát, không an toàn; tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ Điều kiện để đột phá về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn: đến cuối năm 2006 còn 58 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50%, trong đó có 27 huyện trên 60%, 10 huyện trên 70% và 01 huyện trên 80%; còn 3.006 xã có tỷ lệ nghèo trên 25%.
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách, giải pháp giảm nghèo, phấn đấu hoàn thành trước thời hạn mục tiêu về giảm tỷ lệ hộ nghèo theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:
Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo có trách nhiệm phân công các thành viên theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra, đánh giá, chỉ đạo và có biện pháp hỗ trợ một số địa bàn trong các vùng nghèo trọng điểm có tỷ lệ hộ nghèo cao thực hiện các chương trình giảm nghèo.
8. Nhiệm vụ cụ thể của một số Bộ, ngành như sau:
a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch bổ sung kinh phí cho các chương trình giảm nghèo năm 2008 và các năm tiếp, trước hết là các dự án đầu tư cho 58 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% nhằm đạt được mục tiêu về đích trước hai năm theo chỉ đạo của Chính phủ;
- Nghiên cứu xây dựng, trình ban hành Chuẩn nghèo mới áp dụng cho các chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015;
- Chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành liên quan sửa đổi cơ chế, quy trình, thủ tục hỗ trợ dầu tư cơ sở hạ tầng xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; đôn đốc các thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo tập trung chỉ đạo rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, các dự án, chỉ tiêu thuộc phạm vi Bộ, ngành mình phụ trách để đẩy nhanh tiến độ thực hiện mục tiêu của chương trình.
b) Ủy ban Dân tộc:
- Chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi cơ chế, chính sách đang thực hiện của Chương trình 135 giai đoạn II cho phù hợp với việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và nâng cao hiệu quả Chương trình;
- Chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành liên quan rà soát, các chương trình, dự án, cơ chế, chính sách đang triển khai liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đề xuất các Bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách thuộc phạm vi Bộ, ngành phụ trách để thực hiện đồng bộ với Chương trình 135 giai đoạn II;
- Tập trung chỉ đạo các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình 135 giai đoạn II; thực hiện đồng bộ các chương trình, dự án trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi do Uỷ ban Dân tộc quản lý chỉ đạo với Chương trình 135 giai đoạn II; chỉ đạo quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn trong đó có nguồn vốn quốc tế hỗ trợ cho Chương trình.
c) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát các chương trình, cơ chế, chính sách liên quan đến thực hiện mục tiêu giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi, trên cơ sở đó đề xuất sửa đổi, bổ sung những nội dung không còn phù hợp; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành, địa phương liên quan xây dựng Đề án quy hoạch, sắp xếp lại vùng dân cư, đầu tư các công trình phòng, chống lũ đặc biệt là khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; phối hợp với Bộ Tài chính cân đối, bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện các chương trình giảm nghèo năm 2008 và các năm tiếp theo nhằm đạt được mục tiêu theo chỉ đạo của Chính phủ.
d) Bộ Tài chính cân đối, bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện các chương trình giảm nghèo năm 2008 và các năm tiếp theo nhằm đạt được mục tiêu về đích trước 02 năm theo chỉ đạo của Chính phủ; chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan xây dựng và hoàn thiện cơ chế chuyển từ việc miễn giảm học phí, các khoản đóng góp đối với học sinh nghèo sang cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo.
đ) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án khuyến nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành, nghề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc hướng dẫn các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc trên địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 giai đoạn II.
e) Bộ Y tế chủ trì, sửa đổi cơ chế, chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo theo hướng tăng thời hạn sử dụng thẻ bảo hiểm y tế với thời hạn từ 02 năm trở lên và có cơ chế để hộ mới thoát nghèo trong thời hạn 02 năm đầu tiếp tục được hưởng chế độ ưu đãi về y tế.
g) Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, sửa đổi chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo đối với học sinh thuộc diện hộ nghèo trong Điều kiện đổi mới chính sách học phí và một số chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo ngoài miễn giảm học phí, các khoản đóng góp cho học sinh thuộc diện hộ nghèo ở vùng khó khăn như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, kiên quyết không để tình trạng trẻ em bỏ học chỉ vì lý do nghèo; chỉ đạo các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp thực hiện tốt chính sách tín dụng và miễn giảm học phí cho học sinh nghèo theo quy định phân cấp công nhận hộ nghèo (cấp xã công nhận hộ nghèo).
h) Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (ngoài Chương trình 134) nhất là vùng thường xuyên bị thiên tai; quy hoạch, sắp xếp lại dân cư vùng miền Trung thường xuyên bị thiên tai nhằm phòng tránh, hạn chế thiệt hại trên cơ sở kinh nghiệm, kết quả của chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư vượt lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long.
i) Bộ Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo; tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động, phát triển mô hình Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại các xã nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, địa phương có đông người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số.
k) Bộ Nội vụ hướng dẫn bố trí cán bộ xã chuyên trách công tác lao động - thương binh và xã hội để kết hợp theo dõi, quản lý chương trình giảm nghèo; hướng dẫn tổ chức bộ máy Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao; chỉ đạo các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện Quyết định 34/2006/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 - 2010.
l) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo Ngân hàng Chính sách Xã hội cải tiến quy trình, thủ tục để tạo thuận lợi hơn cho việc vay vốn ưu đãi đối với hộ nghèo.
m) Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác giảm nghèo; tuyên truyền các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả về giảm nghèo.
9. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
- Đề xuất với cấp uỷ Đảng xây dựng Nghị quyết chuyên đề về công tác giảm nghèo để tập trung lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ này trên địa bàn;
- Chỉ đạo rà soát lại thực trạng hộ nghèo, khả năng thực hiện mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn, xây dựng kế hoạch chi tiết, đề xuất các biện pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến độ thực hiện giảm nghèo, tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm 2008, chống bệnh thành tích, quan liêu, không phản ánh đúng thực trạng nghèo của địa phương, cơ sở;
- Hướng dẫn, chỉ đạo các huyện, nhất là huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% xây dựng dự án cụ thể để tập trung đầu tư và chỉ đạo thực hiện đồng bộ để giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, đến năm 2010 tiếp cận với mức thu nhập bình quân của tỉnh và tổng hợp nhu cầu kinh phí đầu tư gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để báo cáo Chính phủ;
- Phân bổ nguồn vốn các Chương trình trong tháng 01 hàng năm, bảo đảm mục tiêu và tập trung trọng điểm; lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn; huy động, tạo nguồn nội lực tại chỗ; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể trong chỉ đạo thực hiện;
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của nhân dân đối với các chính sách, dự án và toàn bộ hoạt động của các chương trình;
- Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo tình hình thực hiện các chương trình giảm nghèo về Ban Chỉ đạo.
|
Nơi nhận: | THỦ TƯỚNG |
- 1Thông báo số 194/TB-VPCP về kết luận của phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng tại cuộc họp thường trực ban chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo do Văn phòng Chính phủ ban hành.
- 2Công văn số 1696/TTg-QHQT về việc báo cáo kết quả đàm phán với Ngân hàng Phát triển Châu Á về khoản vay hỗ trợ thực hiện Chương trình giảm nghèo IV đồng tài trợ cho Chương trình PRSC 6 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Quyết định 34/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 - 2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Thông báo số 194/TB-VPCP về kết luận của phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng tại cuộc họp thường trực ban chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo do Văn phòng Chính phủ ban hành.
- 3Công văn số 1696/TTg-QHQT về việc báo cáo kết quả đàm phán với Ngân hàng Phát triển Châu Á về khoản vay hỗ trợ thực hiện Chương trình giảm nghèo IV đồng tài trợ cho Chương trình PRSC 6 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Chỉ thị 04/2008/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 04/2008/CT-TTg
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 25/01/2008
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 95 đến số 96
- Ngày hiệu lực: 19/02/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
