Tóm tắt Bản ghi nhớ về đảm bảo an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Nga và Việt Nam
Bản ghi nhớ về đảm bảo an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Liên bang Nga và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là văn bản hợp tác song phương quan trọng nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ chất lượng, an toàn dịch bệnh và vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản giao thương giữa hai nước. Dưới đây là nội dung tóm tắt chi tiết về thông tin văn bản và nội dung cốt lõi từ Phần mở đầu đến Điều 4.
Thông tin chung về văn bản
- Tên văn bản: Bản ghi nhớ về đảm bảo an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Nga và Việt Nam.
- Cơ quan ban hành: Cơ quan có thẩm quyền của hai nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Cơ quan Giám sát Thú y và Kiểm dịch Thực vật Liên bang Nga - Rosselkhoznadzor).
- Tình trạng hiệu lực: Đang áp dụng (theo các thỏa thuận hợp tác song phương hiện hành).
Nội dung chi tiết Phần mở đầu và các Điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Phần mở đầu: Bối cảnh và mục tiêu hợp tác
Phần mở đầu khẳng định mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy thương mại thủy sản song phương bền vững, đồng thời cam kết bảo vệ sức khỏe con người và động vật thông qua việc áp dụng các biện pháp kiểm soát an toàn thực phẩm nghiêm ngặt, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định pháp luật của mỗi nước.
2. Điều 1: Phạm vi áp dụng và mục đích của Bản ghi nhớ
- Xác định phạm vi điều chỉnh đối với tất cả các mặt hàng thủy sản và sản phẩm thủy sản xuất khẩu từ Việt Nam sang Nga (và ngược lại vào thị trường Liên minh Kinh tế Á - Âu) cũng như từ Nga xuất khẩu sang Việt Nam.
- Mục đích cốt lõi là thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa hai bên nhằm kiểm soát, giám sát và chứng nhận an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh đối với thủy sản xuất nhập khẩu.
- Đảm bảo các lô hàng thủy sản lưu thông giữa hai nước đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn vệ sinh dịch tễ của nước nhập khẩu.
3. Điều 2: Xác định cơ quan thẩm quyền của hai bên
- Phía Việt Nam: Cơ quan thẩm quyền là Cục Quản lý Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (trước đây là NAFIQAD) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Phía Liên bang Nga: Cơ quan thẩm quyền là Cơ quan Giám sát Thú y và Kiểm dịch Thực vật Liên bang (Rosselkhoznadzor).
- Hai cơ quan này chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện Bản ghi nhớ, làm đầu mối thông tin, kiểm tra giám sát hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm và cấp chứng thư cho các lô hàng xuất khẩu.
4. Điều 3: Điều kiện đối với doanh nghiệp và đăng ký danh sách xuất khẩu
- Các doanh nghiệp muốn xuất khẩu thủy sản sang thị trường của nhau phải được cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu kiểm tra, đánh giá và công nhận đáp ứng đầy đủ các quy định an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu.
- Cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu lập danh sách các doanh nghiệp đủ điều kiện và gửi cho cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu để xem xét, phê duyệt và đăng ký chính thức.
- Chỉ những doanh nghiệp có tên trong danh sách được phê duyệt mới được phép xuất khẩu sản phẩm thủy sản vào thị trường của bên kia.
5. Điều 4: Cơ chế kiểm tra, giám sát và cấp chứng nhận an toàn
- Mỗi lô hàng thủy sản xuất khẩu phải được kiểm tra và cấp Chứng thư vệ sinh (Health Certificate) bởi cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu trước khi vận chuyển. Chứng thư này xác nhận lô hàng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh của nước nhập khẩu.
- Quy định về việc phối hợp thực hiện các đợt thanh tra, kiểm tra thực địa hoặc kiểm tra trực tuyến đối với hệ thống quản lý và các cơ sở chế biến thủy sản của nhau nhằm đánh giá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát chất lượng.
- Thiết lập quy trình xử lý nhanh chóng trong trường hợp phát hiện lô hàng không đạt yêu cầu chất lượng tại cửa khẩu, bao gồm việc cảnh báo, tạm dừng nhập khẩu đối với doanh nghiệp vi phạm và yêu cầu điều tra nguyên nhân, khắc phục triệt để.
Ý nghĩa của các điều khoản đầu trong việc thúc đẩy giao thương
Việc quy định rõ ràng từ Điều 1 đến Điều 4 tạo nền tảng pháp lý vững chắc, giúp giảm thiểu rủi ro tranh chấp thương mại và rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa tại cửa khẩu. Sự thừa nhận lẫn nhau về vai trò của cơ quan thẩm quyền giúp doanh nghiệp hai nước chủ động hơn trong việc hoàn thiện quy trình sản xuất, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của thị trường Nga và Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
BẢN GHI NHỚ
GIỮA CƠ QUAN LIÊN BANG VỀ KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT LIÊN BANG NGA VÀ CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN THUỘC BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN THỦY SẢN XUẤT-NHẬP KHẨU GIỮA LIÊN BANG NGA VÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Nhằm kiểm soát hiệu quả an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cơ quan liên bang về kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga (sau đây được gọi là VPSS) và Cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây được gọi là NAFIQAD), được gọi là các Bên, đã nhất trí về các biện pháp hành chính sau đây:
1. Thủy sản xuất khẩu từ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào Liên bang Nga và từ Liên bang Nga vào Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nguồn gốc từ các tỉnh, khu vực vùng của Việt Nam và Liên bang Nga không có các bệnh dịch động vật phải kiểm dịch và đặc biệt nguy hiểm, cũng như các bệnh của cá và các loài thủy sinh khác có tên trong danh mục của Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đối với loại động vật đó theo Tiêu chuẩn Codex về vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản. NAFIQAD và VPSS sẽ kịp thời thông báo cho nhau về sự thay đổi tình hình dịch bệnh tại các địa phương có các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu sản phẩm của mình vào Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Thủy sản dành cho xuất khẩu từ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào Liên bang Nga chỉ có thể có nguồn gốc từ các doanh nghiệp (tàu cá) khai thác, chế biến thủy sản, các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản và các kho lạnh được VPSS công nhận để xuất khẩu vào Liên bang Nga.
3. Thủy sản dành cho xuất khẩu từ Liên bang Nga vào Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có thể có nguồn gốc từ các doanh nghiệp (tàu cá) khai thác, chế biến thủy sản, các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản và các kho lạnh được NAFIQAD công nhận để xuất khẩu vào Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. NAFIQAD đảm bảo rằng thủy sản được sản xuất tại các doanh nghiệp của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xuất khẩu từ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sang Liên bang Nga đáp ứng các yêu cầu thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản của Liên bang Nga, NAFIQAD sẽ áp dụng tất cá các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa việc cung cấp vào lãnh thổ Liên bang Nga thủy sản không đáp ứng các yêu cầu này.
5. VPSS đảm bảo rằng thủy sản được sản xuất tại các doanh nghiệp của Liên bang Nga và xuất khẩu từ Liên bang Nga vào Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng các yêu cầu thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản của Việt Nam. VPSS sẽ áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa việc cung cấp vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thủy sản không đáp ứng các yêu cầu này.
6. VPSS và NAFIQAD trong phạm vi thẩm quyền của mình đảm bảo việc thường xuyên giám sát các doanh nghiệp (tàu cá) đã được công nhận để đảm bảo các yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm phù hợp luôn luôn được thực hiện. Trong khuôn khổ giám sát thường xuyên như vậy, nếu thấy doanh nghiệp (tàu cá) đã được công nhận mà không tuân thủ các yêu cầu này. Bên xuất khẩu sẽ đình chỉ việc xuất khẩu hàng từ doanh nghiệp (tàu cá) này và thông báo điều đó cho Bên nhập khẩu.
7. Trong quá trình kiểm tra, chứng nhận chất lượng các lô hàng thủy sản xuất khẩu vào Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga, VPSS và NAFIQAD trong phạm vi thẩm quyền của mình đảm bảo việc giám sát nguồn gốc xuất xứ từ nguyên liệu dùng để sản xuất các lô hàng thủy sản này.
8. VPSS và NAFIQAD tiến hành kiểm tra kiểm nghiệm thủy sản nhập vào lãnh thổ Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu sau khi kiểm tra kiểm nghiệm phát hiện ra thủy sản không đáp ứng yêu cầu vệ sinh-thú y và an toàn thực phẩm của Liên bang Nga hoặc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, VPSS và NAFIQAD trong phạm vi thẩm quyền của mình áp dụng lệnh tạm ngừng nhập khẩu thủy hải sản từ doanh nghiệp sản xuất cụ thể phù hợp với yêu cầu của nước nhập khẩu.
9. Trong trường hợp doanh nghiệp (tàu cá) Việt Nam bị loại ra khỏi danh sách các doanh nghiệp (tàu cá) chế biến thủy sản của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì không tuân thủ các yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm của Liên bang Nga. VPSS sẽ xem xét lại việc công nhận doanh nghiệp (tàu cá) này trên cơ sở các cam kết do NAFIQAD gửi tới VPSS rằng các sai lỗi đã được khắc phục và doanh nghiệp (tàu cá) lại có thể đáp ứng các yêu cầu vệ sinh thú y, hoặc, tùy thuộc vào mức độ và tính chất mối nguy, sau khi VPSS thanh tra các doanh nghiệp (tàu cá) này trong thời hạn sớm nhất.
10. Trong trường hợp doanh nghiệp (tàu cá) Nga bị loại ra khỏi danh sách các doanh nghiệp (tàu cá) chế biến thủy sản của Liên bang vì không tuân thủ các yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm của Việt Nam. NAFIQAD sẽ xem xét lại việc công nhận doanh nghiệp (tàu cá) này trên cơ sở các cam kết do VPSS gửi tới NAFIQAD rằng các sai lỗi đã được khắc phục và doanh nghiệp (tàu cá) lại có thể đáp ứng các yêu cầu vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm, hoặc, tùy thuộc vào mức độ và tính chất mối nguy, sau khi NAFIQAD thanh tra các doanh nghiệp (tàu cá) này trong thời hạn sớm nhất.
11. Để kiểm tra các cam kết được quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 và 7, VPSS và NAFIQAD sẽ cùng tiến hành các cuộc thanh tra ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga.
12. NAFIQAD sẽ cung cấp cho VPSS thông tin về các doanh nghiệp được VPSS công nhận cho phép xuất khẩu sản phẩm của mình vào lãnh thổ Liên bang Nga, theo Phụ lục 1.
13. VPSS sẽ cung cấp cho NAFIQAD thông tin về các doanh nghiệp được NAFIQAD công nhận cho phép xuất khẩu sản phẩm của mình vào lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Phụ lục 2.
14. Bản ghi nhớ này là một văn kiện liên ngành và các điều khoản của Bản ghi nhớ được bắt buộc thực hiện trong phần liên quan đến thẩm quyền của các Bên.
15. Mọi bổ sung vào Bản ghi nhớ này sẽ được thực hiện dưới dạng văn bản và là một phần không thể tách rời của Bản ghi nhớ.
16. Bản ghi nhớ này có hiệu lực kể từ ngày đại diện có thẩm quyền của các Bên ký.
17. Bản ghi nhớ này được ký kết ngày 21 tháng 4 năm 2011, bằng tiếng Việt, tiếng Nga và tiếng Anh. Trong trường hợp nảy sinh bất đồng, bản tiếng Anh sẽ được sử dụng.
| Cơ quan liên bang | Cục Quản lý chất lượng |
Phụ lục 1 đi kèm Bản ghi nhớ giữa Cơ quan liên bang về kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga và Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đảm bảo an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
| Doanh nghiệp nhà sản xuất (tên, số đăng ký, địa chỉ) | Công suất sản xuất của DN (tấn) | Nhà xuất khẩu | Công ty nhà nhập khẩu ở Liên bang Nga | Khối lượng cung cấp theo thỏa thuận (tấn/năm) |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phụ lục 2 đi kèm Bản ghi nhớ giữa Cơ quan liên bang về kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga và Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đảm bảo an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
| Doanh nghiệp nhà sản xuất (tên, số đăng ký, địa chỉ) | Công suất sản xuất của DN (tấn) | Nhà xuất khẩu | Công ty nhà nhập khẩu ở CHXHCN Việt Nam | Khối lượng cung cấp theo thỏa thuận (tấn/năm) |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Bản ghi nhớ về đảm bảo an toàn thủy sản xuất-nhập khẩu giữa Nga và Việt Nam
- Số hiệu: khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 21/04/2011
- Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà Liêng bang Nga, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/04/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
