|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE Bản án số: 10/2021/DS-ST Ngày: 26 – 01 – 2021. V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Minh Quang;
- Ông Đặng Hoàng Mích.
- Thư ký phiên Tòa: Ông Trần Minh Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 559/2020/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Thị Hà G, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ tạm trú: Số 23A, đường Đ, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Chị G có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 17/12/2020. - Bị đơn: Đỗ Trường D, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã C, huyện Đ, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2020 nguyên đơn chị Trương Thị Hà G trình bày:
Chị và anh D kết hôn năm 2018, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống hai vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng đến tháng 06 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh D không chăm lo xây dựng gia đình và quan tâm vợ, con.
Anh chị đã ly thân từ tháng 7 năm 2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa và không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh D. Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Trường T, sinh ngày 11/01/2019, chị yêu cầu được nuôi, yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 17/12/2020, chị G đã thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của mình, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.
* Anh Đỗ Trường D đều vắng mặt trong các lần hòa giải, xét xử nên không thu thập được lời khai của anh.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về nội dung giải quyết vụ án:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Riêng đối với bị đơn, Tòa án triệu tập để hòa giải, xét xử nhưng anh D đều vắng mặt không lý do là chưa thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G đối với anh D. Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Trường T, sinh ngày 11/01/2019 cho chị G nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị G nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị G có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt đề ngày 17/12/2020; Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị G và anh D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Hà G và anh Đỗ Trường D kết hôn năm 2018 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh D được công nhận hợp pháp.
Nay chị G yêu cầu được ly hôn với anh D, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh D để tiến hành hòa giải, nhằm tạo điều kiện cho anh chị có cơ hội hàn gắn, đoàn tụ. Tuy nhiên, anh D đều vắng mặt. Điều đó cho thấy, anh D đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Hơn nữa, từ tháng 7 năm 2019 đến nay chị G và anh D không còn sống chung nhà, chuyện ai nấy làm, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau.
Qua đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị G và anh D đã không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị G là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống chị G và anh D có với nhau 01 con chung tên Đỗ Trường T, sinh ngày 11/01/2019, hiện đang sống với chị G. Chị G yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, xét thấy việc chị G trực tiếp nuôi con chung vẫn phát triển bình thường, nên nhằm ổn định về tinh thần của con chung anh chị, cần để con chung cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị G.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của chị nên ghi nhận, không đặt vấn đề giải quyết.
[5]. Về tài sản chung: Chị G khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6]. Về nợ chung: Chị G khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Hà G đối với anh Đỗ Trường D. Quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị Hà G và anh Đỗ Trường D chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Giao con chung Đỗ Trường T, sinh ngày 11/01/2019 cho chị Trương Thị Hà G trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện chị G nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh Đỗ Trường D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Trương Thị Hà G trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Đỗ Trường D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, nên không xét đến.
- Về nợ chung: Không có, nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trương Thị Hà G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị G đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002239 ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, chị Trương Thị Hà G đã nộp đủ án phí.
- Chị Trương Thị Hà G và anh Đỗ Trường D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Hoàng Nhân |
Bản án số 10/2021/DS-ST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre về ly hôn
- Số bản án: 10/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/01/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị Hà G yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Tường D
