|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Nguyễn Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Khánh Toàn.
2. Ông Dương Trung Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Bá Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Hoàng Trọng T (tên gọi khác không), sinh ngày 15/6/2006 tại huyện V, tỉnh Yên Bái.
- Lường Văn T1 (tên gọi khác không), sinh ngày 01/5/2006 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái.
Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N, sinh năm 1983 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1981; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo là đối tượng thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 07/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái.
Bị cáo bị bắt tạm giữ 15/7/2024, tạm giam ngày 18/7/2024 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.
Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn D, sinh năm 1972 và bà Lò Thị M1, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ 15/7/2024, tạm giam ngày 18/7/2024 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Trọng T và Lường Văn T1:
- + Bà Phan Thị Kim T2, trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh số 1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. “Có mặt”.
Bị hại:
- Hoàng Văn T3, sinh năm 1996, trú tại thôn Bản Hốc, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Văn L, sinh năm 1972, trú tại thôn K 14+17, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt” có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Hà Văn O, sinh năm 1981, trú tại Bản Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.
- Phàn Dào V, sinh năm 1969, trú tại thôn X, xã N, thị xã S, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”.
- Đỗ Đức S, sinh năm 2000, trú tại Ngõ A, đường H, tổ C, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/7/2024, anh Phàn Dào V, sinh năm 1969, trú tại thôn X, xã N, thị xã S, tỉnh Lào Cai đến Công an xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai trình báo về việc anh V vừa mua được 01 chiếc xe mô tô biển số 21K1-326.15 với giá 600.000 đồng của 02 nam thanh niên, nghi ngờ đây là tài sản trộm cắp, anh V trình báo và giao nộp chiếc xe mô tô cho cơ quan Công an. Sau khi nhận được tin báo, Công an xã Q, huyện B đã tổ chức tuần tra và phát hiện 02 đối tượng có đặc điểm như anh Phàn Dào V mô tả. Sau khi được đưa về trụ sở hai đối tượng khai tên là Hoàng Trọng T, sinh ngày 15/6/2006, trú tại thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái và Lường Văn T1, sinh ngày 01/5/2006, trú tại tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Chiếc xe mô tô biển số 21K1-326.15 mà anh P DàoVảng giao nộp cho Công an xã Q, huyện B chính là chiếc xe mà T và T1 đã trộm cắp tại khu vực xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái, sau khi lấy cắp được chiếc xe, T và T1 đã mang lên Lào Cai bán cho anh Phàn D1 Vảng. Cơ quan Công an đã tạm giữ chiếc xe mô tô biển số 21K1-326.15 và số tiền 440.000 đồng thu giữ trên người T và thông báo cho Cơ quan điều tra Công an huyện V để làm rõ sự việc.
Cùng ngày 14/7/2024, anh Hoàng Văn T3, trú tại thôn Bản Hốc, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái đến Công an xã Đ trình báo vào khoảng 15 giờ ngày 12/7/2024 anh T3 đi làm về nhà và để xe mô tô biển số 21K1-326.15 trước cửa nhà nhưng quên rút chìa khóa điện, đến 15 giờ 10 phút anh T3 không thấy chiếc xe của mình đâu, anh T3 đã đi tìm nhưng không thấy, đến nay xác định chiếc xe đã bị mất cắp, anh T3 đề nghị cơ quan Công an xác minh điều tra để thu hồi lại tài sản trả lại cho mình.
Ngày 16/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 về hành vi trộm cắp tài sản tại thôn Bản Hốc, xã Đ, huyện V.
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Trọng T khai nhận như sau: Ngày 12/7/2024, T và T1 chơi điện tử tại thị xã N, T và T1 gặp anh Đỗ Đức S, sinh năm 2000, trú tại ngõ A, đường H, tổ C, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái tại quán điện tử. Tại đây T hỏi mượn S chiếc xe mô tô biển số 24B2-061.22 để cùng T1 về nhà của T lấy quần áo. Khi T và T1 về đến nhà của T tại thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái thì bố của T là ông Hoàng Văn N biết con trai nghiện ma túy nên đã nghi ngờ chiếc xe là tài sản trộm cắp, ông N đã giữ chiếc xe lại không cho T và T1 mang đi, sau đó ông N đã mang chiếc xe lên Công an xã Đ để giao nộp nhờ Công an xã xác minh. Sau khi bị ông N giữ chiếc xe lại đến khoảng 15 giờ ngày 12/7/2024, T và T1 đi bộ từ nhà của T theo quốc lộ C, hướng từ thị xã N đi thành phố Y, khi cả hai đi đến trước cửa nhà anh Hoàng Văn T3, thì nhìn thấy trong sân nhà anh T3 đang dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave a, màu sơn đen - bạc, biển số 21K1-326.15, chìa khóa vẫn cắm ở ổ điện. Quan sát thấy không có người để ý, trông coi, T nảy sinh ý định chiếm đoạt và rủ T1 thực hiện hành vi trộm cắp, T1 đồng ý. T1 đứng ngoài đường cảnh giới, T đi vào sân nhà anh T3 dắt chiếc xe ra đường, nổ máy, điều khiển xe chở T1 đi vào một số địa điểm mua bán xe mô tô tại thị xã N để bán, nhưng không bán được. Sau đó T và T1 mang chiếc xe đến cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy của anh Hà Văn O, sinh năm 1981, trú tại Bản Đ, xã N, thị xã N, bán cho anh O chiếc ống xả (ống bô) của xe với giá 200.000 đồng. Ngày 13/7/2024, T và T1 tiếp tục điều khiển xe đến cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1972, ở thôn K 14+17, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái, bán cho anh L toàn bộ phần ốp nhựa và cánh yếm của chiếc xe với giá 400.000 đồng. Tổng số tiền thu được từ việc bán các bộ phận của chiếc xe, T và T1 đã mua ma tuý sử dụng và chi tiêu cá nhân hết. Ngày 14/7/2024, Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 điều khiển chiếc xe đến thành phố L, tỉnh Lào Cai, sau đó bán chiếc xe cho anh Phàn Dào V, sinh năm 1969, trú tại thôn X, xã N, thị xã S, tỉnh Lào Cai với giá 600.000 đồng. Sau đó T và T1 đã bị bắt giữ, số tiền bán chiếc xe, T và T1 đã chi tiêu hết 160.000 đồng, còn 440.000 đồng bị thu giữ như đã nêu.
Lường Văn T1 khai quá trình trộm cắp tài sản diễn ra đúng như Hoàng Trọng T đã khai.
Bị hại Hoàng Văn T3 khai sự việc mất trộm chiếc diễn ra đúng như anh T3 đã trình báo tại Công an xã Đ, huyện V.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đỗ Đức S khai sự việc anh S cho Hoàng Trọng T mượn xe đúng như T đã khai. Anh S đã được nhận lại chiếc xe mô tô biển số 24B2-061.22, đến nay anh S không có đề nghị gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn O và Nguyễn Văn L khai sự việc mua ống xả xe và bộ vỏ nhựa xe của Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 đúng như T và T1 đã khai. Khi bán những tài sản trên, T và T1 đều nói chiếc xe là của T, do cần độ lại ống xả và bộ vỏ nhựa nên T bán lại cho anh O và anh L các bộ phận nêu trên. Anh O và anh L đã tự nguyện nộp lại 01 ống xả xe máy và 01 bộ vỏ nhựa xe máy đã mua của T và T1 cho Cơ quan điều tra. Do số tiền mà anh O và anh L bỏ ra để mua không lớn, T và T1 đã tiêu sài hết nên anh Hà Văn O và Nguyễn Văn L không yêu cầu Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 bồi thường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phàn Dào V khai sự việc mua bán chiếc xe biển số 21K1-326.15 với giá 600.000 đồng của Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 đúng như anh V đã trình báo tại Công an xã Q, huyện B và đúng như Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Anh V đã được nhận lại số tiền 440.000 đồng, số tiền còn lại 160.000 đồng do T và T1 đã tiêu sài hết nên anh V không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa các bị cáo không thay đổi lời khai và thừa nhận bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản là đúng.
Vật chứng của vụ án và một số giấy tờ liên quan được thu giữ trong quá trình điều tra gồm: 01 xe mô tô biển số 21K1-326.15, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave a, màu sơn đen- bạc, xe thiếu một số bộ phận; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 090186, biển số xe đăng ký 21K1-326.15 do Phòng C Công an tỉnh Y cấp ngày 02/3/2018; 01 giấy phép lái xe số [...] do Sở G cấp ngày 30/10/2018; 01 chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số 0914924 do Công ty B cấp ngày 23/6/2024; Một số bộ phận của xe gồm ống xả, cánh yếm, ốp sườn xe đã được thu hồi và trả lại cho bị hại.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL-ĐG ngày 16/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: “Chiếc xe mô tô biển số 21K1-326.15, nhãn hiệu Honda Wave a, màu sơn đen - bạc, xe đã qua sử dụng (đăng ký năm 2018) có trị giá 10.200.000 đồng”.
Cáo trạng số: 43/CT-VKS-VC ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn truy tố các bị cáo Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như trong bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- - Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật hình sự (BLHS); áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Phạm tội gây thiệt hại không lớn” và “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng T từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 04 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lường Văn T1 từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- - Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo là cá nhân thuộc thuộc hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm (HSST) cho các bị cáo.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa trình bày lời bảo chữa: Nhất trí với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức có nhiều hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự, đã thành khẩn khai báo nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo T từ 07 tháng đến 10 tháng tù, xử phạt bị cáo T1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, miễn án phí cho cả hai bị cáo.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với các bị cáo Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc truy tố các bị cáo đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị hại, của nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại Hoàng Văn T3 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L, Hà Văn O, Phàn Dào V, Đỗ Đức S vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra vụ án, bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ, bị hại đã được nhận lại tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có ý kiến yêu cầu bồi thường gì thêm. HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 của BLTTHS.
[3] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do lười lao động, nghiện ma túy nên ngày 12/7/2024, Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 21K1-326.15, nhãn hiệu Honda Wave a, màu sơn đen - bạc, xe đã qua sử dụng có trị giá 10.200.000 đồng của anh Hoàng Văn T3. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đây là một trong những quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật hình sự của Nhà nước ghi nhận và bảo vệ, hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do các bị cáo thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản trộm cắp có giá trị thấp, gây thiệt hại không lớn cho bị hại, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho cả hai bị cáo.
Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy, bị cáo Hoàng Trọng T còn là đối tượng thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái nên cần coi các bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo mặc dù tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, nhưng lại sa vào con đường nghiện ngập chất ma túy. Các bị cáo lười lao động, khi thấy người khác sơ hở trong bảo quản tài sản là thực hiện ngay hành vi trộm cắp tài sản như vậy thể hiện các bị cáo là người thiếu tu dưỡng rèn luyện do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù với thời gian nhất định mới đảm bảo cho việc giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật và góp phần tích cực đấu tranh phòng ngừa tội phạm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn là phù hợp. Tuy nhiên HĐXX cũng thấy rằng các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đây là vụ án đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo T giữ vai trò chính trong việc khởi xướng và thực hiện tội phạm do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn với bị cáo T1.
Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[4] Về bồi thường thiệt hại: Tài sản các bị cáo trộm cắp của bị hại đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phàn Dào V đã nhận lại số tiền 440.000 đồng, số tiền còn lại 160.000 đồng anh V không yêu cầu các bị cáo hoàn trả, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hà Văn O không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 200.000 đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 400.000 đồng nên HĐXX không xem xét.
[5] Về vấn đề xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Chiếc xe mô tô biển số 21K1-326.15 cùng ống bô, bộ vỏ nhựa đã được thu giữ và trả lại cho bị hại.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 24B2-061.22 mà bị cáo T mượn của anh Đỗ Đức S nhưng bị bố của bị cáo T giữ và nộp cho cơ quan Công an, quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh S, đến nay anh S không yêu cầu gì thêm.
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
Trong vụ án này các bị cáo khai là người nghiện ma túy, sau khi bán ống xả và phần vỏ nhựa chiếc xe trộm cắp được với tổng số tiền 600.000 đồng, các bị cáo đã mua ma túy sử dụng. Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cả hai bị cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho các bị cáo ở khu vực bến xe thị xã N do các bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với Hà Văn O là người mua chiếc ống xả xe máy và Nguyễn Văn L là người mua bộ phận vỏ nhựa của chiếc xe máy, trong quá trình giao dịch với các bị cáo, anh O và anh L không biết đây là tài sản trộm cắp, do các bị cáo nói dối là xe của các bị cáo và muốn độ ống bô và vỏ nhựa xe nên mới bán lại cho anh O và anh L. Đối với anh Phàn Dào V sau khi mua được xe của các bị cáo, anh V nghi ngờ xe trộm cắp nên đã báo công an và giao nộp cho cơ quan Công an. Các anh Hà Văn O, Nguyễn Văn L, Phàn Dào V không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[7] Về án phí: Các bị cáo là cá nhân thuộc thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí HSST.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng T và Lường Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của BLHS.
Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/7/2024.
Xử phạt bị cáo Lường Văn T1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/7/2024.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho cả hai bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Nguyễn Thắng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẨN TỈNH YÊN BÁI Số: 57/2024/HSST-QĐTG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Văn Chấn, ngày 26 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn T5.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Trung L1 và ông Hoàng Khánh T6.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo Hoàng Trọng T (tên gọi khác không), sinh ngày 15/6/2006 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (Bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ công an huyện V, tỉnh Yên Bái có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Nguyễn Thắng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI Số: 58/2024/HSST-QĐTG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Văn Chấn, ngày 26 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn T5.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Trung L1 và ông Hoàng Khánh T6.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo Lường Văn T1 (tên gọi khác không), sinh ngày 01/5/2006 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái. Đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 ngày (Bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ công an huyện V, tỉnh Yên Bái có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trọng T - Trộm cắp TS
