|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HSST Ngày 21/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Thọ
Bà Nguyễn Thị Hiền Lương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm 1984 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 (đã chết)và bà Trần Thị B, sinh năm 1960; Anh chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 03; Vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; Con có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Bị hại: Ông Trần Hữu T2 ( đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Anh Trần Hữu H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Anh Trần Hữu B1, sinh năm 1986; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Anh Trần Hữu N1, sinh năm 1987; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Anh Trần Hữu T3, sinh năm 1995; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người được người đại diện hợp pháp của bị hại uỷ quyền:
Anh Trần Hữu H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị L, sinh năm 1975; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Chị Đặng Thị H2, sinh năm 1983; Nơi cư trú:Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Công ty TNHH T9;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Võ T4, sinh năm 1964; Nơi cư trú:Thôn T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, Lê Văn T (có giấy phép lái xe hạng FC hợp pháp) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-191.35 kéo theo Sơ ri rơ moóc biển kiểm soát 37R-004.75, trên xe có Nguyễn Văn T5 (sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) di chuyển từ xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đi xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày khi đi đến KM 72+800 quốc lộ D thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, thì phát hiện phía trước có 01 (một) xe mô tô đang di chuyển ở phần đường bên phải cùng chiều với hướng di chuyển của T. Lúc này, T điều khiển xe ô tô di chuyển sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển của mình để vượt xe mô tô nói trên. Khi phần đầu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37C - 191.35 vừa di chuyển vượt qua chiếc xe mô tô này, thì phía trước ở phần đường bên trái đường theo hướng di chuyển của T có chị Đặng Thị H2 (sinh năm 1983) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37V2 - 5109 chở theo ông Trần Hữu T2 (sinh năm 1962) và chị Trần Thị L (sinh năm 1975 đều trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) di chuyển ngược chiều vừa đi đến, nên phần phía sau bên trái Sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 37R - 004.71 đã va chạm với người ông Trần Hữu T2 làm ông T2, Chị H2 và chị L ngã xuống đường. Hậu quả: ông Trần Hữu T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ nhưng sau đó đã tử vong; chị Trần Thị L bị thương, chị Đặng Thị H2, anh Nguyễn Văn T5 không bị thương tích, xe mô tô không hư hỏng, xe Sơ ri rơ moóc hư hỏng nhẹ.
Sau khi vụ tai nạn xẩy ra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Lê Văn T. Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập vào hồi 18 giờ 10 phút, ngày 31/10/2024, của Công an huyện T đã xác định được: “Tại thời điểm kiểm tra trong hơi thở của Lê Văn T nồng độ cồn là 0,000mg/L khí thở”.
- Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 21 giờ 10 phút ngày 31/10/2024, đã xác định:
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại KM 72+800 quốc lộ D thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đoạn đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng, lòng đường rộng 5 mét; ở giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn. Trục đường hướng T - Đ, hướng T đi thôn C, xã T, huyện T, hướng Đông Nam đi thôn C, xã T, huyện T. Ở lề đường phía Tây Nam là cỏ đất rộng 1,5m, lề đường phía Đông Bắc là bê tông rộng 0,8m; trục đường cua phải (hướng thôn D đi thôn B, xã T, huyện T) cách hiện trường khoảng 150m, ở lề đường phía Đông Bắc có biển báo “đường ngoặt nguy hiểm”. Lấy cột trụ bê tông phía Đông Nam nhà anh Xuân T6 mốc cố định; Lấy vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn ở giữ đường làm chuẩn.
- Xe mô tô biển kiểm soát 37V2-5190 dừng đỗ (dựng) trên nền bê tông cổng nhà anh Trần Xuân T6, đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng Tây. T7 trục bánh trước cách mép chuẩn 4,7m và cách mốc 05m về phía T, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 3,6m. Ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường.
- Vùng dấu vết mảnh vỡ kính màu đen, màu vàng trên mặt đường có kích thước (30x20)cm, tâm vùng dấu vết cách tâm trục bánh sau xe (1) 6,3m (đo thẳng hai điểm) và cách mép chuẩn 1,8m. Ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường.
- Vùng dấu vết chất màu nâu đỏ (nghi là máu) trên mặt đường có kích thước (3,2x1,6)m. Điểm đầu (phía Đông Na) dấu vết cách dấu vết (2) 0,73m về phía T ; T7 dấu vết cách mép 1,2m . Ký hiệu số (3) trên sơ đồ hiện trường.
- Lõi xốp mũ bảo hiểm bị vỡ vỏ ngoài trên mặt đường. Vị trí cách điểm cuối (3) (phía T) 4,3m về phía T và cách mép chuẩn 0,8m. Ký hiệu số (4) trên sơ đồ hiện trường.
- Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-004.71 dừng trên mặt đường. Đầu xe hướng T, đuôi xe hướng ngược lại ; tâm trục bánh sau cùng bên trái Sơ ri rơ moóc cách mép chuẩn 0,3m và cách dấu vết (4) 34m về phía T (đo thẳng hai điểm); tâm trực bánh trước bên trái xe đầu kéo cách méo 0,8m. Ký hiệu số (4) trên sơ đồ hiện trường.
- Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông trên xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-191.35, Sơ ri rơ moóc vào hồi 16 giờ 10 phút ngày 04/11/2024, đã xác định được:
- + T8 ngoài lốp ngoài dãy bánh lốp phía sau cùng bên trái Sơ ri rơ moóc có vùng dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất không liên tục trên diện có kích thước (64x16)cm chiều hướng ngược chiều quay trên bánh xe.
- + Mép ngoài dưới tấm kim loại chắn bùn bánh sau cùng bên trái Sơ ro rơ moóc có vùng dấu vết ttrượt xước sạch bụi đất, bám dính chất màu nâu trên diện có kích thước (20x3)cm, điểm thấp nhất của dấu vết cáo cách mặt đất 67,5cm.
- + Mặt ngoài phía trước bánh xe đơ cáp thứ hai tính từ sau ra trước gắn ở bên trái Sơ ri rơ moóc có vùng dấu vết trượt sạch bụi đất bám, bề mặt bám dính chất màu nâu trên diện có kích thước (2,5x1,5)cm, chiều hướng từ trái sang phải, dấu vết cao cách mặt đất 117cm.
- + T8 bên trái Sơ ri rơ moóc kéo dài từ đuôi xe phía trước 136cm ở mép phía dưới của thành Sơ ri rơ moóc bị trượt sạch bụi đất, bề mặt bám dính chất màu vàng không liên tục kích thước (136x4)cm, dấu vết cách mặt đất 125,5cm, chiều hướng từ trước ra sau.
- + Đèn led gắn ở phía sau cùng bên trái của S ri rơ moóc bị vỡ, các bộ phận phía trong của đèn bị trượt xước nhựa, bám dính chất màu nâu kích thước (11x55)cm, dấu vết cao cách mặt đất 118cm.
- + Mặt trước bánh đơ sau cùng gắn ở bên trái Sơ ri rơ moóc có dấu vết trượt sạch bụi đất không liên tục, bề mặt bám dính chất màu nâu, kích thước (17x10) cm.
- + Mặt trước bên trái cản sau có vùng dáu vết trượt sạch bụi đất, bám dính chất màu nâu, tóc, kích thước (57x12)cm, dấu vết cao cách mặt đất 65cm chiều hướng từ trước ra sau.
- + Mặt trước của cụm đèn hậu bên trái Sơ ri rơ moóc có vùng dấu vết bám dính chất màu nâu dạng tia bắn không liên tục trên kích thước (35x15)cm, dấu vết cáo cách mặt đất 110cm.
- + Mặt dưới góc phía sau bên trái có vùng dấu vết trượt sạch bụi đất, sáng kim loại không liên tục trên diện kích thước (34x0,3)cm.
- + Tiến hành thu giữ mẫu chất màu nâu đỏ bám dính tại các vị trí: Đuôi cáp thứ hai (từ sau ra trước, phía bên trái) Sơ ri rơ moóc; tại đèn led sau cùng bên trái Sơ ri rơ moóc; tại mặt trước bên trái cảng sau Sơ ri rơ moóc.
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông trên xe mô tô tải biển kiểm soát 37V2-5109 vào hồi 16 giờ 55 phút ngày 04/11/2024, đã xác định được:
- + Phần bên ngoài chắn bùn phía trước bị gãy rồi khỏi xe, mặt ngoài bên trái phần còn lại của chắn bùn có dấu vết trượt xước sơn nhựa trên diện có kích thước (20x3)cm;
- + Mặt ngoài cùng cánh yếm bên trái có dấu vêt trượt xước sơn nhựa trên diện có kích thước (10x10)cm, điểm cáo nhất dấu vết cách đất 75cm.
- + Ốp nhựa phía ngaoif đền X bên trái có dấu vết trượt xước, gãy vỡ một phần nhựa trên diện có kích thước (8x5)cm, điểm cao nhất dấu vết cáo cách mặt đất 95cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau.
- + Đầu ngoài lõi kim loại bàn để chân phía bên trái có dấu vết trượt xước kim loại bám dính chất màu trắng dạng bụi đá đường.
Ngày 31/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1112/QĐ-ĐTTH Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N, giám định nguyên nhân chết của ông Trần Hữu T2 liên quan trong vụ tai nạn giao thông nói trên. Tại Kết luận giám định tử thi số 253/KLGĐTT-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của ông Trần Hữu T2:
“1. Các kết quả chính:
- + Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, mài miết, mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu;
- + Gãy xương ức;
- + Gãy 03 xương sườn bên phải;
- + Gãy 04 xương sườn bên trái;
- + Vỡ tim;
- + Dập, rách, xẹp phổi;
- + Hai khoang lồng ngực, bao tim chứa khoảng 2.200ml máu đông và không đông;
- + Tim, phổi nhạt màu.
2. Kết luận:
- Kết luận nguyên nhân tử vong: Trần Hữu T2, sinh năm 1962, trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An tử vong do suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp do chấn thương làm vỡ tim; dập, rách, xẹp phổi; gãy xương ức và 07 xương sườn.
- Kết luận khác: Không”.
Ngày 19/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định số 1154/QĐ-CSĐT(ĐTTH) trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh N giám định dấu vết cơ học liên quan vụ tai nạn giao thông nói trên. Tại Kết luận giám định số 343/KL-KLHS(DVCH) ngày 05/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
- Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71 di chuyển trên đường Q theo chiều hướng từ thôn D, xã T đi thôn B, xã T; xe mô tô mang biển số 37V2 - 5109 di chuyển ngược chiều xe ô tô đầu kéo mang mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71.
- Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô mang biển số 37V2 - 5109 và xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71.
- xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71 có va chạm với ông Trần Hữu T2. Vị trí va chạm đầu tiên:
- - Trên xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71: Ở phía dưới bên trái thành thùng sơ mi rơ moóc mang biển số 37R-004.71.
- - Trên cơ thể ông Trần Hữu T2: Ở phần phía trên cơ thể.
- - Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Q theo hướng từ thôn B, xã T đi thôn D, xã T.
- Không xác định được tốc độ di chuyển của xe mô tô mang biển số 37V2 - 5109 và xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn”.
Ngày 23/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Công văn số 933/CQCSĐT-ĐTTH đề nghị Phòng K - Công an tỉnh N biện luận nội dung liên quan vụ tai nạn giao thông: “Những vị trí cụ thể nào trên cơ thể ông Trần Hữu T2 va chạm với xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71?”. Ngày 13/01/2025, Phòng K - Công an tỉnh N có Công văn số 16/PC09(Đ1) về việc việc biện luận dấu vết trong vụ tai nạn giao thông, trả lời:
“Các dấu vết trên cơ thể ông Trần Hữu T2 có đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C - 191.35 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển số 37R - 004.71 gồm:
- + Đầu, trán, mặt bị xây xát, rách da, bầm tụ máu không liên tục kích thước (22x6)cm trên vùng này có 02 vết thương gồm: Vết 01 cách thẳng trên mép miệng trái 17cm, kích thước (12x3,7)cm; vết 02 cách thẳng trên đỉnh vành tai phải 5cm, kích thước (6x1)cm.
- + 01 vết thương ở ngang ngoài núm vú trái 5cm, kích thước (11x2,5)cm.
- + 01 vết thương cách trên núm vú trái 22cm, cách dưới ngoài mép miệng trái 8cm, kích thước (4,5x7)cm”.
Ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Công văn số 975/CQCSĐT-ĐTTH đề nghị Phòng K - Công an tỉnh N biện luận nội dung liên quan vụ tai nạn giao thông: “Những vết thương, chấn thương nào bên ngoài cơ thể ông T2 làm ông T2 bị vỡ tim; dập, xẹp phổi; gãy xương ức và 7 xương sườn và cơ chế hình thành các vết thương này?”. Ngày 16/01/2025, Phòng K - Công an tỉnh N có Công văn số 01/BL-KTHS(GĐ-PY) về việc việc biện luận nội dung liên quan vụ tai nạn giao thông, trả lời: “Dấu vết tại mục 1.1.5 (phần khám ngoài) trong Kết luận giám định tử thi số 253/KLGĐTT-KTHS, đề ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N là do vật tày tác động tạo nên và là tổn thương chính làm ông T2 bị vỡ tim; dập, xẹp phổi; gãy xương ức và 7 xương sườn”.
Ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Quyết định trưng cầu V giám định AND. Tại Kết luận giám định AND số 611/24/KLGDADN-PYQG ngày 12/11/2024 của V đã kết luận: “AND thu giữ từ các mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 trùng khớp hoàn toàn với AND của mẫu so sách A2 (Trần Hữu T2) và không trùng với AND của mẫu so sánh A1 (Trần Thị L) trên các locus STR đã so sánh”.
Ngày 27/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1196/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Trần Thị L. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 660/KLTTCT-TTPY của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị L tại thời điểm giám định là 33% (Ba mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
Ngày 27/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có Yêu cầu định giá tài sản số 2022/YC-ĐTTH gửi Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T định giá giá trị thiệt hại của chiếc xe ô đầu kéo biển số 37C-191.35 kéo theo Sơ mi rơ moóc biển số 37R-004.71 bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Tại Kết luận định giá số 98/KL-ĐĐG ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận “Giá trị công sửa chữa và phụ tùng thay thế để phục hồi nguyên trạng ô tô đầu kéo biển số 37C-191.35 kéo theo Sơ mi rơ moóc biển số 37R-004.71 bị thiệt hại là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (Một) xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C -191.35 kéo theo Sơ mi rơ móoc mang biển kiểm số 37R - 004.71; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen, mang biển số 37V2 - 5109 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Đối với 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở G cấp ngày 26/04/2022 mang tên Lê Văn T được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xẩy ra Lê Văn T đã bồi thường cho gia đình người bị hại Trần Hữu T2 với số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng); bồi thường cho bà Trần Thị L số tiền 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng). Công ty TNHH T9 và chị Đặng Thị H2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 37/VKS -HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Lê Văn T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo, đề nghị trả lại bị cáo Lê Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở G cấp ngày 26/04/2022 mang tên Lê Văn T.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được bồi thường thiệt hại, nay không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Công ty TNHH T9 và chị Đặng Thị H2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Lê Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; phù hợp với các bản kết luận giám định thương tích; giám định tử thi; giám định phương tiện; kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 45 phút tại KM 72+800 quốc lộ D thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T c có Giấy phép lái xe hạng FC hợp pháp điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 37C-191.35 kéo theo Sơ ri rơ moóc biển kiểm soát 37R-004.75, di chuyển xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đi xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, do vượt xe khi không đảm bảo an toàn nên đã để xe ô tô do mình điều khiển va chạm với ông Trần Hữu T2, bà Trần Thị L ngồi phía sau xe mô tô biển kiểm soát 37V2 - 5109 do Đặng Thị H2 điều khiển đi ngược chiều phía bên trái theo hướng di chuyển của Lê Văn T. Hậu quả ông Trần Hữu T2 chết, bà Trần Thị L bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33% thiệt hại tài sản giá trị 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo có bà ngoại và ông nội là người có công với nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Xét thấy, không cần thiết cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo, do đó trả lại bị cáo Lê Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở G cấp ngày 26/04/2022 mang tên Lê Văn T.
Đối với 01 (Một) xe ô tô đầu kéo mang biển số 37C -191.35 kéo theo Sơ mi rơ móoc mang biển kiểm số 37R - 004.71; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen, mang biển số 37V2 - 5109 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được bồi thường thiệt hại, nay không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Công ty TNHH T9 và chị Đặng Thị H2 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Tuyên bố bị cáo: Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Xử phạt: Lê Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30(Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở G cấp ngày 26/04/2022 (Có tại hồ sơ vụ án)
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Dũng |
Bản án số 28/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 28/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lê Văn T vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
