Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN CHẤN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Nguyễn Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Mạnh.
  2. Ông Cao Trường Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

- Hà Đức T (tên gọi khác không), sinh ngày 28/7/1984 tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đức C, sinh năm 1953 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ đã ly hôn là Hà Thị T1, sinh năm 1984 và 02 con (con lớn sinh 2005, con nhỏ sinh 2011); Tiền án: Ngày 23/8/2023 bị Toà án nhân dân huyện Văn Chấn xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 39/2023/HS-ST), ngày 23/12/2023 chấp hành xong; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/7/2018 bị Toà án nhân dân huyện Văn Chấn xử phạt 04 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 31/2018/HS-ST), ngày 12/01/2019 chấp hành xong; Ngày 04/5/2021 bị Toà án nhân dân huyện Văn Chấn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 25/10/2022 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/11/2024 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

Bị hại:

  1. Chị Dương Thị H, sinh ngày 19/12/1981, trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.
  2. Anh Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 10/9/1981, trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Anh Thành ủy Q cho chị Dương Thị H tham gia tố tụng. Chị H. “Vắng mặt”.
  3. Chị Lý Thị K, sinh ngày 16/12/1999, trú tại: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.
  4. Anh Triệu Trí D, sinh ngày 23/9/1993, trú tại: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Anh Dũng uỷ quyền cho chị Lý Thị K tham gia tố tụng. Chị K “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

  1. Bà Phạm Thị D1, sinh năm 1944, trú tại: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.
  2. Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1980, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện V, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

  1. Ông Hà Đức C, sinh năm 1953, trú tại: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/11/2024, chị Lý Thị K và Dương Thị H đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an đề nghị giải quyết việc gia đình chị H bị mất trộm 02 bao tải thóc, gia đình chị K bị mất trộm 02 bao tải ngô đã tách hạt.

Sau khi rà soát các đối tượng nghi vấn, bằng các biện pháp nghiệp vụ cơ quan Công an đã xác định Hà Đức T, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái là đối tượng có liên quan đến các vụ mất trộm tài sản nêu trên. Công an đã triệu tập Hà Đức T để đấu tranh, tại Cơ quan Công an Hà Đức T khai:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/11/2024, Hà Đức T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 21B2-106.77, màu sơn đỏ - xám, là xe của ông Hà Đức C, sinh năm 1953, trú tại thôn T, xã T, huyện V (bố đẻ của T) đi vào khu vực xã M, huyện V, mục đích tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Khi đi đến nhà chị Dương Thị H, sinh năm 1981, ở thôn Đ, xã M, quan sát thấy nhà đóng cửa, cổng không khoá, không có người ở nhà, xung quanh không có người qua lại, T dựng xe mô tô ở trước cổng, đi vào mở cửa gian bếp nhà chị H, thấy trong góc bếp có 02 bao tải thóc (01 bao màu xanh và 01 bao màu trắng), loại thóc T, T liền ôm hai bao thóc ra ngoài, dùng dây cao su chằng, buộc lên yên xe, rồi quay vào khép cửa bếp lại, sau đó chở 02 bao thóc trên đến nhà bà Phạm Thị D1, sinh năm 1944, ở thôn T, xã T, T nói với bà D1 đây là thóc của nhà mình muốn bán, bà D1 kiểm tra, cân 02 bao thóc có tổng trọng lượng 72 kilogam và nhất trí mua với giá 500.000 đồng. Do T đang còn nợ bà D1 125.000 đồng, nên bà D1 đã trừ số tiền nợ trên và đưa cho T 375.000 đồng. Số thóc mua của T, bà Dần xát một phần được 21 kilogam gạo, còn lại 43 kilogam thóc chưa sử dụng.

Khoảng 16 giờ ngày 22/11/2024, Hà Đức T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 21B2-106.77 đến nhà chị Lý Thị K, sinh năm 1999, ở thôn K, xã M, huyện V, thấy không có ai ở nhà, T để xe ở ngoài đường, rồi mở cửa đi vào gian phòng ngủ nhà chị K, thấy trong phòng có 02 bao tải ngô đã tách hạt (01 bao màu vàng và 01 bao màu trắng sọc), T lần lượt ôm từng bao tải ngô trên ra ngoài và chằng, buộc lên xe mô tô, sau đó chở đến cơ sở xay xát gạo của chị Hoàng Thị N, sinh năm 1980, ở tổ dân phố T, thị trấn N, huyện V, T nói với chị N ngô của T vừa đi thu nợ về và muốn bán. Chị N kiểm tra, cân 02 bao ngô có tổng trọng lượng là 111 kg và đồng ý mua với giá 730.000 đồng. Toàn bộ số tiền 1.105.000 đồng thu được từ việc bán thóc và ngô nêu trên, Hà Đức T đã mua ma tuý của một người đàn ông dân tộc Mông tại khu vực N, xã C và sử dụng hết.

Bị hại Dương Thị H và Nguyễn Tuấn T2 khai: Chị H và anh T2 là vợ chồng, ngày 21/11/2024 gia đình chị H, anh T2 bị mất trộm 02 bao tải thóc loại Thái Xuyên 111. Chị H và anh T2 đề nghị cơ quan điều tra xử lý nghiêm Hà Đức T là người trộm cắp tài sản của gia đình. Số thóc bị Hà Đức T trộm cắp khi cơ quan điều tra thu hồi được bao nhiêu thì chị H xin nhận lại bấy nhiêu. Chị H đã được nhận tại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm. Anh Nguyễn Tuấn Thành ủy Q cho chị Dương Thị H thạm gia tố tụng.

Bị hại Lý Thị K và Triệu Trí D khai: Chị K và anh D là vợ chồng, ngày 22/11/2024 gia đình chị K, anh D bị mất trộm 02 bao tải ngô đã tách hạt. Chị H và anh D đề nghị cơ quan điều tra xử lý nghiêm người trộm cắp tài sản của gia đình. Số ngô hạt bị trộm cắp đã được thu hồi đầy đủ, chị K đã được nhận tại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm. Anh Triệu Trí D uỷ quyền cho chị Lý Thị Kiều T3 gia tố tụng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng Phạm Thị D1 khai: Ngày 21/11/2024, Hà Đức T chở 02 bao tải thóc đến nhà bà D1 nói đây là thóc của gia đình muốn bán. Sau khi cân được 72 kg, bà D1 đồng ý mua với giá 500.000 đồng, do T còn nợ bà D1 125.000 đồng nên bà D1 trừ nợ và trả cho T 375.000 đồng. Sau khi mua được thóc bà D1 đã xát 29 kg thóc được 21 kg gạo. Bà D1 tự nguyện nộp lại 43 kg thóc và 21 kg gạo. Bà D1 không yêu cầu, không có đề nghị gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng Hoàng Thị N khai: Ngày 22/11/2024, Hà Đức T chở 02 bao ngô đến nói với chị N đây là số ngô mà T vừa đi thu nợ về muốn bán. Sau khi cân lên được 111 kg, chị N trả cho T 730.000 đồng. Chị N tự nguyện nộp lại 111 kg ngô, không yêu cầu Hà Đức T trả lại số tiền 730.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hà Đức C khai: Ông C là bố của Hà Đức T, chiếc xe mô tô Honda, loại Wave, biển số 21B2-106.77 là tài sản của ông C đăng ký tên ông C, thường ngày ông C để chìa khoá xe trên nóc tủ của gia đình, ngày 21 và 22/11/2024, Hà Đức T tự ý lấy xe của ông C đi làm phương tiện trộm cắp tài sản, ông C không biết và không liên quan. Chiếc xe bị tạm giữ phục vụ điều tra đến nay đã được trả lại, ông C không có yêu cầu đề nghị gì.

Vật chứng của vụ án gồm 01 bao thóc 43kg, 01 bao gạo 21 kg, 01 bao ngô 59 kg, 01 bao ngô 52 kg, 01 xe mô tô Honda, loại Wave, biển số 21B2-106.77 được thu giữ và trả lại cho các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-ĐG ngày 27/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V kết luận: 72 kilogam thóc tẻ, loại thóc Thái Xuyên 111 có trị giá 612.000 đồng; 111 kilogam ngô, đã tách hạt có trị giá 777.000 đồng.

Cáo trạng số: 06/CT-VKS-VC ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn truy tố bị cáo Hà Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận sự việc mất trộm tài sản xảy ra đúng như Cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị D1 khai đã mua số thóc của bị cáo như bị cáo đã khai. Bà D1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Bị cáo không ý kiến gì về Kết luận định giá tài sản.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như trong bản Cáo trạng, đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố bị cáo Hà Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (BLHS); áp dụng tình tiết giảm nhẹ, “Phạm tội gây thiệt hại không lớn”, “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Hà Đức T từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc truy tố bị cáo đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng:

Tại phiên tòa hôm nay các bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong quá trình điều tra vụ án, những người này đã có lời khai đầy đủ. HĐXX quyết định xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, 293 của BLTTHS.

[3] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở trong việc bảo quản tài sản của chủ sở hữu nên ngày 21/11/2024, Hà Đức T đã lén lút chiếm đoạt 72 kilogam thóc tẻ, loại thóc T 111 có trị giá 612.000 đồng của chị Dương Thị H và anh Nguyễn Tuấn T2. Ngày 22/11/2024, Hà Đức T đã lén lút chiếm đoạt 111 kilogam ngô, đã tách hạt có trị giá 777.000 đồng của chị Lý Thị K và anh Triệu Trí D. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.389.000 đồng. Mặc dù những lần trộm cắp tài sản đều dưới mức khởi điểm chịu trách nhiệm hình sự (TNHS), tuy nhiên Hà Đức T có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nên đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đây là một trong những quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật hình sự của Nhà nước ghi nhận và bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do bị cáo thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Mặc dù bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi chưa được xoá án tích và có 02 lần trộm cắp tài sản trong các ngày 21 và 22/11/2024 tuy nhiên do các lần trộm cắp tài sản này đều có giá trị tài sản dưới mức khởi điểm chịu TNHS và các tình tiết này đã được xác định là căn cứ định tội nên không bị coi là tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản trộm cắp có giá trị thấp, gây thiệt hại không lớn cho các bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người nghiện ma tuý đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Đã bị Toà án xét xử 02 lần trong đó có 01 lần đã được xoá án tích do vậy cần xác định là người có nhân thân xấu.

Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo nghiện ma tuý, lười lao động và khi thấy người khác sơ hở trong bảo quản tài sản là thực hiện ngay hành vi trộm cắp tài sản như vậy thể hiện bị cáo là người thiếu tu dưỡng rèn luyện do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù với thời gian nhất định mới đảm bảo cho việc giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật, góp phần tích cực đấu tranh phòng ngừa tội phạm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn là phù hợp.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[4] Về bồi thường thiệt hại: Các tài sản do bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho các bị hại, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 bao thóc 43kg, 01 bao gạo 21 kg, 01 bao ngô 59 kg, 01 bao ngô 52 kg là vật chứng của vụ án đã thu hồi và trả lại cho các bị hại là phù hợp.

- Đối với 01 xe mô tô Honda, loại Wave, biển số 21B2-106.77 bị tạm giữ, quá trình điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

[6] Các vấn đề khác của vụ án:

- Bị cáo là người nghiện ma tuý sau khi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma tuý để sử dụng, Cơ quan Công an huyện V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với bị cáo là đúng quy định.

- Trong vụ án này bà Phạm Thị D1, chị Hoàng Thị N là người mua tài sản do bị cáo trộm cắp, khi mua các tài sản này bà D1 và chị N không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan Điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

- Đối với ông Hà Đức C là người có chiếc xe mô tô mà bị cáo sử dụng để di chuyển thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ông C không biết bị cáo lấy xe của mình đi thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan Điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông mà bị cáo không quen biết đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Về án phí: Bị cáo Hà Đức T phải chịu án phí HSST.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hà Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Xử phạt bị cáo Hà Đức T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 27/11/2024.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Yên Bái;
  • -VKSND huyện Văn Chấn ;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • -CA tỉnh Yên Bái;(2b)
  • -THADS huyện Văn Chấn;
  • -Bị cáo; Bị hại; NCQLLQ;
  • - Sở Tư pháp;
  • -THA HS;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Nguyễn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 06/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Đức T - Trộm cắp TS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger