Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HS-ST

Ngày: 22-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Thanh và bà Dương Thị Tố Như.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST- HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn N, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 08/12/1999; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A Hà Giang, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1964; có vợ: Ka Hiển, sinh năm 2000, con: Có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 06/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Huỳnh Tấn T, tên gọi khác: T đen, sinh ngày 11/6/2002; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Hẻm S L, tổ E, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Huỳnh Tấn T1 (đã chết) và bà Đinh Thị My M1, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 11/01/2017 bị Công an phường L, thành phố B xử phạt hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000264/QĐ-XPVPHC, đã được xóa.
  • + Ngày 05/6/2019 bị Công an thành phố B xử phạt số tiền 100.000 đồng về hành vi Gây mất trật tự công cộng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 86/QĐ-XPHC. Đã nộp phạt ngày 27/8/2020, đã được xóa.
  • + Ngày 02/02/2021 bị Công an thành phố B xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC. Đã nộp phạt ngày 04/02/2021, đã được xóa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 06/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Bùi Văn N1, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Trần Bích N2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số E L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  • + Ông Vũ Đình K, sinh năm 1969; địa chỉ: Số G T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/4/2024, Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, T điều khiển xe mô tô Honda Vision màu đen nâu, biển số 49K1-696.32 chở theo sau N, cả hai bàn bạc thống nhất T ở bên ngoài để cảnh giới, còn N sẽ thực hiện việc trộm cắp tài sản, sau khi lấy được tài sản hoặc bị phát hiện thì N sẽ lên xe mô tô của T để bỏ chạy. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, cả hai đi đến khách sạn M2 địa chỉ: số B L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì phát hiện khách sạn không có người trông coi nên NT thống nhất sẽ lấy trộm tài sản bên trong khách sạn. T điều khiển xe mô tô chở N đến cổng khách sạn, sau đó T ngồi trên xe mô tô cảnh giới, N đi bộ vào trong. N đi vào phòng tiếp tân của khách sạn gọi “cô ơi, chú ơi” để thăm dò bên trong khách sạn có người hay không. Sau khi thấy không có ai thì N đi vào trong phòng ngủ của khách sạn – đây là phòng của anh Bùi Văn N1 sinh năm 1982, thường trú tại số nhà A T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nam mở ngăn kéo tủ gỗ màu đen thì thấy có 01 két sắt mini màu xám kích thước (20x30x15) cm và 01 hộp nhựa trong suốt, N mở hộp nhựa thì phát hiện bên trong có các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng, N lấy số tiền trên bỏ vào túi quần trước bên phải. Sau đó, N tiếp tục phát hiện bên trong có két sắt mini còn có 01 túi nilon màu đen, Nam nghĩ bên trong túi chứa tiền nên cầm két sắt mini có túi nilon màu đen chạy ra ngoài thì làm rơi két sắt xuống nền gạch khiến cửa két sắt bung ra, vàng bên trong túi nilon bị rơi ra. Thấy vậy, N nhặt vàng bỏ vào túi nilon rồi chạy ra vị trí xe mô tô của T bỏ đi. Trên đường đi N mở túi nilon màu đen thì thấy có 02 nhẫn vàng, 01 lắc tay vàng, 01 sợi dây chuyền bằng vàng kèm 01 mặt dây chuyền bằng vàng, 01 đồng hồ màu vàng có dòng chữ Brauy Wisdom, 01 đồng hồ màu trắng bạc nhãn hiệu Citizen, 03 mảnh kim loại màu vàng có hình dạng giống các mặt của dây đồng hộ được tháo rời. Sau đó cả hai đi đến khu vực hồ N thì dừng lại, N mang số tiền đã lấy được từ khách sạn ra đếm được 7.000.000 đồng. N đưa cho T 1.500.000 đồng rồi cả hai đi đến tiệm C ở số G T, phường L, thành phố B, N sử dụng 1.500.000 đồng vừa chiếm đoạt được để chuộc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pixel 6 Pro (của N) và 01 điện thoại di động Iphone 6s (của T). Sau khi chuộc điện thoại thì cả hai về nhà của T, N lấy tài sản chiếm đoạt được bỏ vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Halim màu sơn đỏ đen biển số 49AK-029.71 mà N sử dụng rồi cả hai điều khiển xe mô tô của N đi chơi Internet ở phường L, thành phố B. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 05/4/2024, N rủ T đi đến tiệm cầm đồ T2 ở số E L, Phường A, thành phố B cầm cố 01 nhẫn vàng trộm cắp ở khách sạn được số tiền 3.600.000 đồng. Sau khi cầm cố vàng xong thì N đưa tiếp cho T số tiền 1.200.000 đồng rồi cả hai đi về nhà T, N nói với T “anh đem tài sản cất trong tủ quần áo nha T” thì T đồng ý, sau đó N lấy tài sản gồm 01 chiếc nhẫn vàng, 01 cái lắc tay vàng, 01 sợi dây chuyền vàng kèm 01 mặt dây chuyền bằng vàng, 01 đồng hồ màu trắng, 01 đồng hồ màu vàng, 03 mảnh kim loại màu vàng từ cốp xe mô tô biển số 49AK-029.71 giấu vào tủ quần áo của nhà T rồi N điều khiển xe mô tô rời khỏi nhà T. Số tiền còn lại là 6.400.000 đồng gồm cả tiền mặt chiếm đoạt được và tiền cầm cố nhẫn vàng thì NT tiêu xài cá nhân.

Cơ quan CSĐT – Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Tấn T tại hẻm S L, phường L, thành phố B thu giữ tại tủ quần áo ở phòng bếp nối liền với phòng khách của căn nhà có 01 hộp giấy màu xanh kích thước (10x7,5x7) cm bên trong có 01 đồng hồ đeo tay màu trắng bạc nhãn hiệu Citizen, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng có chữ Brauy Wisdom, 03 mảnh kim loại màu vàng có hình giống các mặt của dây đồng hồ được tháo rời, 01 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá nhỏ màu trắng và 01 viên đá màu cam đính trên mặt nhẫn, 01 lắc đeo tay làm bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá nhỏ màu trắng và đính 01 viên đá màu cam trên mặt lắc, 01 mặt dây chuyền làm bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá nhỏ màu trắng và có đính 01 viên đá màu cam trên mặt dây chuyền.

Tại Kết luận giám định số 2416/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

  • - 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng, tổng khối lượng (cả đá) 5,9064g có thành phần kim loại vàng (Au) 66,92%, bạc (Ag) 14,42%, đồng (Cu) 15,77%;
  • - 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam đính trên mặt nhẫn, tổng khối lượng (cả đá) 6,4839g có thành phần kim loại vàng (Au) 58,87%, bạc (Ag) 12,46%, đồng (Cu) 21,80%;
  • - 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam, tổng khối lượng (cả đá) 11,8241g có thành phần kim loại vàng (Au) 60,19%, bạc (Ag) 19,47%, đồng (Cu) 20,34%;
  • - 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng 9,1093g có thành phần kim loại vàng (Au) 59,53%, bạc (Ag) 17,93%, đồng (Cu) 22,54%;
  • - 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam, tổng khối lượng (cả đá) 6,9433g có thành phần kim loại vàng (Au) 59,99%, bạc (Ag) 15,71%, đồng (Cu) 24,31%.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 49/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá thành phố B xác định:

  • + 01 đồng hồ đeo tay màu trắng bạc nhãn hiệu Citizen trị giá 550.000 đồng;
  • + 01 đồng hồ đeo tay màu vàng có dòng chữ Brauy Wisdom trị giá 537.000 đồng;
  • + 03 mảnh kim loại màu vàng có hình dạng giống các mặt của dây đồng hồ được tháo rời không có giá trị;
  • + 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng, tổng khối lượng (cả đá) 5,9064g có thành phần kim loại vàng (Au) 66,92%, bạc (Ag) 14,42%, đồng (Cu) 15,77% trị giá 4.917.000 đồng;
  • + 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam đính trên mặt nhẫn, tổng khối lượng (cả đá) 6,4839g có thành phần kim loại vàng (Au) 58,87%, bạc (Ag) 12,46%, đồng (Cu) 21,80% trị giá 4.897.000 đồng;
  • + 01 lắc tay bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam, tổng khối lượng (cả đá) 11,8241g có thành phần kim loại vàng (Au) 60,19%, bạc (Ag) 19,47%, đồng (Cu) 20,34% trị giá 10.534.000 đồng;
  • + 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng 9,1093g có thành phần kim loại vàng (Au) 59,53%, bạc (Ag) 17,93%, đồng (Cu) 22,54% trị giá 9.500.000 đồng;
  • + 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam, tổng khối lượng (cả đá) 6,9433g có thành phần kim loại vàng (Au) 59,99%, bạc (Ag) 15,71%, đồng (Cu) 24,31% trị giá 4.034.000 đồng;
  • Tổng giá trị của các tài sản trên là 34.969.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 89/CT-VKSBL, ngày 11 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra đã thu giữ và ra quyết định xử lý tài sản trả lại cho chủ sở hữu là chị Huỳnh Thị Mỹ T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đen nâu biển số 49K1-696.32; anh Bùi Văn N1 01 đồng hồ đeo tay màu trắng bạc nhãn hiệu Citizen, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng có dòng chữ Brauy Wisdom, 03 mảnh kim loại màu vàng có hình dạng giống các mặt của dây đồng hồ được tháo rời, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam đính trên mặt nhẫn, 01 lắc tay làm bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam, 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam; chị Vũ Thị Hằng N3 01 xe mô tô nhãn hiệu Halim màu sơn đỏ biển số 49AK-029.71.

Đối với 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xám có chữ “POC” và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen xanh trắng đỏ. Đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, các bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.

Đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Pixel 6 Pro của Nguyễn Văn N và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6S màu xám của Huỳnh Tấn T. Đây là tài sản liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự. Quá trình điều tra anh Bùi Văn N1 yêu cầu các bị cáo Huỳnh Tấn TNguyễn Văn N bồi thường số tiền 7.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị Trần Bích N2 chủ tiệm “cầm đồ Thúy” yêu cầu các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Tấn T phải liên đới bồi thường số tiền 3.600.000 đồng, phần của mỗi bị cáo là ½ = 1.800.000đ. Các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho anh N1 7.000.000đ, cho chị N2 3.600.000đ, các bị cáo đồng ý bồi thường theo phần là ½ nên ghi nhận.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

  • + Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên. Các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho anh Bùi Văn N1 số tiền 7.000.000 đồng, cho chị N2 3.600.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường theo phần là 1/2.
  • + Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản khán xét; bản ảnh; biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 04/4/2024, tại khách sạn M2, địa chỉ số B L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T đã cùng nhau lén lút trộm cắp tài sản được: Tiền mặt 7.000.000 đồng, 01 đồng hồ đeo tay màu trắng bạc nhãn hiệu Citizen, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng có dòng chữ Brauy Wisdom, 03 mảnh kim loại màu vàng có hình dạng giống các mặt của dây đồng hồ được tháo rời, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam đính trên mặt nhẫn, 01 lắc tay làm bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và viên đá màu cam, 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và viên đá màu cam của anh Bùi Văn N1. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 41.969.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị 41.969.000đ bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường pháp luật, cũng như nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Các bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo N có nhân thân tốt, bị cáo T đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã được xóa.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem tính chất, mức độ của từng bị cáo như sau: Các bị cáo đều rủ nhau cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cùng nhau sử dụng tiền do trộm cắp tài sản mà có nên tính chất, mức độ của hai bị cáo ngang nhau.

[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[9] Phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung.

[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Cơ quan điều tra đã thu giữ và ra quyết định xử lý tài sản trả lại cho chủ sở hữu là chị Huỳnh Thị Mỹ T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đen nâu biển số 49K1-696.32; anh Bùi Văn N1 01 đồng hồ đeo tay màu trắng bạc nhãn hiệu Citizen, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng có dòng chữ Brauy Wisdom, 03 mảnh kim loại màu vàng có hình dạng giống các mặt của dây đồng hồ được tháo rời, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam đính trên mặt nhẫn, 01 lắc tay làm bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam, 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính nhiều viên đá màu trắng và 01 viên đá màu cam; chị Vũ Thị Hằng N3 01 xe mô tô nhãn hiệu Halim màu sơn đỏ biển số 49AK-029.71.

Đối với 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xám có chữ “POC” và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen xanh trắng đỏ. Đây là tài sản của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, các bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.

Đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Pixel 6 Pro của Nguyễn Văn N và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6S màu xám của Huỳnh Tấn T. Đây là tài sản liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[11] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự. Quá trình điều tra anh Bùi Văn N1 yêu cầu các bị cáo Huỳnh Tấn TNguyễn Văn N bồi thường số tiền 7.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị Trần Bích N2 chủ tiệm “cầm đồ Thúy” yêu cầu các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Tấn T phải liên đới bồi thường số tiền 3.600.000 đồng, phần của mỗi bị cáo là ½ = 1.800.000đ. Các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho anh N1 7.000.000đ, cho chị N2 3.600.000đ, các bị cáo đồng ý bồi thường theo phần là ½ nên ghi nhận.

[12] Các vấn đề khác:

Đối với chị Trần Bích N2 – là chủ tiệm cầm đồ T3, quá trình điều tra xác định khi Nguyễn Văn N mang vàng đến tiệm cầm đồ của chị N2 để cầm cố thì N có nói cho chị N2 biết tài sản là của N, bản thân chị N2 không biết vàng Nam cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị N2.

Đối với ông Vũ Đình K - là chủ tiệm cầm đồ Kỷ. Quá trình điều tra xác định ông K không biết N sử dụng tiền do phạm tội mà có để chuộc điện thoại di động nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông K.

[13] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[14] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/4/2024.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T, tên gọi khác là T đen 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu xám có chữ “POC” và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen xanh trắng đỏ.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Pixel 6 Pro, số IMEI 358339775791882/77 và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, số IMEI 353797089634988.

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/6/2024 giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

3. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T liên đới bồi thường cho anh Bùi Văn N1 số tiền 7.000.000đ, phần của mỗi bị cáo là 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng) và liên đới bồi thường cho chị Trần Bích N2 số tiền 3.600.000đ, phần của mỗi bị cáo là 1.800.000đ (một triệu, tám trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được qui định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

4.Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn NHuỳnh Tấn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và mỗi bị cáo phải chịu 2.650.000đ (hai triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 95/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N và T trộm c81p tài sản trị giá trên 40 triệu đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger