Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HSST

Ngày 26/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú

Ông Nguyễn Tư Hải Phong

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn O, T1 gọi khác: Không; sinh năm1982 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản C, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12;dân tộc: Thái; giới tính:Nam; tôn giáo:không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Lương Văn H ( đã chết) và bà Lâm Thị H1 ( đã chết); Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 03.

Tiền sự: Ngày 13/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 06 tháng. Chấp hành xong vào ngày 17/5/2022. Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 19/7/2013, bị UBND nhân dân tỉnh N ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 15 tháng. Chấp hành xong vào ngày 02/9/2014.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/7/2023, tạm giam từ ngày 27/7/2023.Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H2 - Trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị hại: Anh Kha Văn T2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Bản Lườm, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vi Thị M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 17/07/2023, Lương Văn OKha Văn T2, sinh năm 1981, trú tại bản Lườm, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An cùng nhau uống rượu tại nhà chị Vi Thị M, sinh năm 1982, trú tại bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 21 giờ 00 phút, cùng ngày, O nói với anh T2 “Nghỉ thôi, đừng uống nữa”, thì anh T2 trả lời: “Mặc kệ”. Oàng nói tiếp: “Đừng uống rượu nhiều, chỗ mấy người làm keo, không có anh thì họ đánh em rồi”. Sau đó, O đứng dậy lấy nước ở bàn cạnh bên để uống thì giữa O và anh T2 lại tiếp tục lời qua tiếng lại với nhau. Lúc này, anh T2 đứng dậy đi ra phía ngoài sân nên O cũng đặt cốc nước xuống bàn và chạy đuổi theo anh T2. Thấy O đuổi theo phía sau thì anh T2 bỏ chạy xuống khu vực nhà bếp nhưng khi chạy đến cửa nhà bếp thì O đuổi kịp. Thấy vậy, anh T2 quay người lại dùng tay trái đẩy Oàng lùi phía sau còn O dùng hai tay đẩy anh T2 vào nhà bếp. Sau đó, giữa O với anh T2 giằng kéo, xô đẩy nhau. Quá trình xô đẩy, O nhìn thấy trên bàn để đồ trong khu vực nhà bếp có 01 (Một) con dao nên O nghiêng người sang trái, dùng tay trái cầm lấy con dao rồi vung dao chém 01 (Một) cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đầu của anh T2 khiến anh T2 bị thương chảy máu. Thấy vậy, O thả lại con dao xuống nền nhà bếp lấy áo quần ở gần đó để chườm vết thương cho anh T2. Sau đó, O lấy xe máy điều khiển chở anh T2 đi đến Trạm y tế xã N để xem xét vết thương. Tuy nhiên, do thương tích của anh T2 bị nặng nên cán bộ Trạm y tế xã chỉ sơ cứu vết thương ban đầu và nói phải chuyển lên Bệnh viện để điều trị. Sau đó, O tiếp tục điều khiển xe chở anh T2 để đi đến Bệnh viện huyện T nhưng lúc này do xe gần hết xăng và không có tiền trong người nên O để anh T2 bên đường rồi điều khiển xe máy đi vay tiền. Tuy nhiên, trong lúc này, anh T2 được một số người dân phát hiện đưa đi cấp cứu.

Ngày 18/7/2023 nhận thức thấy hành vi của mình là sai nên Lương Văn O đã đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi nói trên của mình.

Ngày 19/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã có Quyết định trưng cầu giám định số 190 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ tổn thương có thể do thương tích gây nên đối với anh Kha Văn T2.

Tại bản kết luận giám định số 428/KLTTCT-TTPY ngày 21/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • - Một vết thương thái dương đỉnh đầu bên trái; Vỡ xương hộp sọ đỉnh bên trái, kích thước 48 mm.
    • - Hiện tại đang điều trị tại Bệnh viện H3.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Kha Văn T2 tại thời
3

điểm giám định là: 13 % (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư./.

Vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 (Một) con dao dài 48,5cm; lưỡi dao dài 26,5cm, cán dao dài 22cm; lưỡi dao được làm bằng kim loại, một lưỡi sắc, đầu tù, chỗ rộng nhất 5,9cm; cán dao được làm bằng gỗ tròn, đường kính 3cm. Ở giữa phần lưỡi dao và cán dao có gắn khuy kim loại màu xám.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Kha Văn T2 không yêu cầu Lương Văn O bồi thường thiệt hại về sức khoẻ.

Bản cáo trạng số 84/CT -VKS ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Lương Văn O về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn O phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn O từ 30 đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Kha Văn T2 không yêu cầu Lương Văn O bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, nên không xem xét.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ 01( Một) con dao dài 48,5cm, lưỡi dài 26,5cm, cán dao dài 22cm, lưỡi dao được làm bằng kim loại, một lưỡi sắc, đầu tù, chỗ rộng nhất 5,9cm, cán dao được làm bằng gỗ tròn, đường kính 3cm. Ở giữa phần lưỡi dao và cán dao có gắn khuy kim loại màu xám.

Về án phí: Bị cáo Lương Văn O là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thuộc diện hộ nghèo năm 2023 và có ý kiến xin miễn án phí, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Lương Văn O thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt .

Tại bản văn bản bào chữa cho bị cáo,người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về chứng cứ và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng xa trung tâm cho nên nhận còn hạn chế; trong quá trình điều tra

4

và tại phiên toà thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Từ các phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức án thấp nhất.

Bị cáo Lương Văn O đồng ý như ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn O khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với với lời khai bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu được; lời khai người làm chứng; phù hợp bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/07/2023, tại bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An do mâu thuẫn cá nhân, Lương Văn O đã có hành vi dùng dao chém 01 nhát trúng vào vùng đầu của anh Kha Văn T2, sinh năm 1981; trú tại bản L, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An gây thương tích cho anh Kha Văn T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% (Mười ba phần trăm). Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương do đó cần thiết phải lên một mức án nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân xấu,ngày 13/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 06 tháng, đã hấp hành xong vào ngày 17/5/2022;Ngày 19/7/2013, bị UBND nhân dân tỉnh N ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 15 tháng, đã chấp hành xong vào ngày 02/9/2014.

5

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Kha Văn T2 không yêu cầu bị cáo Lương Văn O bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01(Một) con dao là công cụ bị cáo dùng để phạm tội, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Vi Thị M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nay chị Vi Thị M không có yêu cầu nhận lại con dao này, do đó tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo Lương Văn O là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thuộc diện hộ nghèo năm 2023 và có ý kiến xin miễn án phí, do đó áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo: Lương Văn O phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  2. Xử phạt: Lương Văn O 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.

  3. Xử lý vật chứng:Tịch thu tiêu huỷ 01( Một) con dao dài 48,5cm, lưỡi dài 26,5cm, cán dao dài 22cm, lưỡi dao được làm bằng kim loại, một lưỡi sắc, đầu tù, chỗ rộng nhất 5,9cm, cán dao được làm bằng gỗ tròn, đường kính 3cm. Ở giữa phần lưỡi dao và cán dao có gắn khuy kim loại màu xám.
  4. (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an)

  5. Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn O.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể
6

từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Nghệ An;
  • -VKSND huyện Thanh Chương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Thanh Chương;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Hạnh Lâm, H.T/Chương, (thay thông báo);
  • - UBND xã Thuận Sơn, H.Đô Lương, (thay thông báo);
  • - Lưu HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2023/HSST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 84/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lương Văn O Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger