|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày: 31-10 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lộc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Bà Nguyễn Thị Lan Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lâm Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN TRUNG T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24/7/1988 tại Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT: Phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố 6, phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Xuân Á; Sinh năm: 1955; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ dân phố 6, phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Con bà: Trần Thị H (Đã chết); Gia đình có 03 anh chị em, Tiến là con thứ hai, chưa có vợ con.
Tiền án: 03
Bản án số: 33/2007/HSST ngày 12/6/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án số: 73/2007/HSST ngày 06/11/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án số: 17/2022/HS-ST ngày 08/7/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Học đến hết lớp 11/12 thì nghỉ học ở nhà. Ngày 02/10/2005, bị Công an phường Bắc Lý xử phạt hành chính Cảnh cáo về hành vi Vi phạm trật tự công cộng. Ngày 28/11/2006, bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính hình thức Cảnh cáo về hành vi Vi phạm trật tự công cộng. Ngày 12/6/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường dân sự. Ngày 06/11/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc Tiến chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù, chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn, ngày 27/4/2010 ra tù về địa phương sinh sống, chưa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường dân sự. Ngày 12/07/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, kháng cáo. Ngày 19/9/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 03 năm tù vê tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn, ngày 15/11/2013 ra tù về địa phương sinh sống, đã thi hành xong. Ngày 30/01/2015, bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi Đánh nhau.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/8/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Đồng Hới đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
Chị Trần Thị Hồng Th, sinh năm 1976; địa chỉ: phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1975; địa chỉ: thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 07/7/2024, Nguyễn Trung T có 03 tiền án một mình đi bộ từ nhà ở tổ dân phố 6, phường Bắc Lý, khi đi đến số nhà 32 đường Lê Văn T thuộc tổ dân phố 5, phường Bắc Lý, Tiến phát hiện cổng nhà mở, bên trong sân có 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Galaxy, màu đen của chị Trần Thị Hồng T, không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tiến quan sát rồi đi vào chổ dựng xe đạp lấy trộm, sau đó đưa đến Cơ sở thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị B làm chủ ở tổ dân phố 7, phường Bắc Lý, nói là tài sản của bản thân bán với giá 200.000 đồng. Số tiền có được Tiến tiêu xài cá nhân hết. Tài sản xe đạp thể thao nhãn hiệu Galaxy, màu đen đã thu hồi được.
Tại kết luận định giá tài sản số 28 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới ngày 24/7/2024 kết luận: 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Galaxy, màu đen trị giá 5.900.000 đồng.
Chị Trần Thị Hồng T không yêu cầu bồi thường dân sự; Chị Trần Thị B không yêu cầu bồi hoàn thiệt hại.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho chị Trần Thị Hồng T 01 xe đạp thể thao nhãn hiệu Galaxy, màu đen, đã qua sử dụng.
Tại Bản Cáo trạng số 78/CT-VKSĐH-KT ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình truy tố Nguyễn Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đã xem xét đánh giá vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 30 đến 36 tháng tù.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với toàn bộ nội dung Bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức có thể.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [2]. Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo trình bày khoảng 07 giờ ngày 07/7/2024, bị cáo đi bộ từ nhà ở tổ dân phố 5, phường Bắc Lý, bị cáo phát hiện cổng nhà chị T mở, bên trong sân có 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Galaxy, màu đen, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo quan sát rồi đi vào chổ dựng xe đạp lấy trộm, sau đó đưa đến Cơ sở thu mua phế liệu bán cho chị B với giá 200.000 đồng. Tại kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc xe đạp trên trị giá 5.900.000 đồng.
Như vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án và phù hợp về quá trình diễn biến phạm tội cũng như thời gian, địa điểm, đặc điểm, số lượng tài sản mà bị cáo đã trộm. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định bị cáo trộm tài sản của chị T đã được kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc xe đạp trị giá 5.900.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, hiện tại bị cáo đang có 03 tiền án nên trong lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà.
- [3]. Xét tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, có trình độ nhận thức về xã hội, có sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân, nhưng với bản tính chây lười lao động, thích hưởng lợi từ sức lao động của người khác, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và xử lý bằng hình sự nên có một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội.
- [4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại đoạn 2 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng đã truy tố bị cáo định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm” nên không áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo.
- [5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [4]. Về xử lý vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho bị hại 01 chiếc xe đạp nay không có ai yêu cầu nên không xem xét.
- [5] Liên quan trong vụ án: Đối với bà Nguyễn Thị B là người mua xe đạp do bị cáo trộm nhưng không biết nên không bị xử lý.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
- [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Không xem xét giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử buộc bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 31/10/2024, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã Ký) Hoàng Văn Lộc |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
