|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập– Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2023/HSST Ngày 25/10/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú
Ông Nguyễn Tư Hải Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thỏa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, T1 gọi khác: Không; sinh năm1977 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ văn hoá: 6/12;dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo:không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Trần Đình Y, sinh năm 1940 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1945; Vợ Phan Thị H1, sinh năm 1977; Con có 03 người, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 03; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 13/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 30/4/2022.
Nhân thân: Ngày 09/01/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong Bản án ngày 09/01/2015.
Ngày 16/9/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2023, tạm giam từ ngày 27/6/2023. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Theo lời khai của Trần Văn T thì vào ngày 17/6/2023, Trần Văn T đi đến nhà Nguyễn Trí T2, sinh năm 1970; trú tại: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An mua của T2 01 (một) gói Heroine với số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) rồi đem về nhà chia thành 35 (Ba mươi lăm) gói với mục đích để bán kiếm lời. Trong ngày 17/6/2023 T đã bán cho Phan Việt H2, sinh năm 2003; trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và Phạm Đình T3, sinh năm 1978; trú tại: xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An 02 (hai) gói Heroine với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Ngoài lời khai của Trần Văn T thì không có tài liệu nào khác chứng minh cho lời khai của Trần Văn T về việc Nguyễn Trí T2 là người đã bán Heroine cho T cũng như việc T đã 02 (hai) lần bán Heroine cho Phan Việt H2 và Phạm Đình T3. Số H3 còn lại 33 gói Trung cất dấu 30 (Ba mươi) gói tại khu vực chuồng trâu gia đình mình, 03 (Ba) gói Trung Trung cất dấu tại phòng ngủ của mình với mục đích để bán kiếm lời. Đến 06 giờ ngày 18/6/2023, tại thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An,khi T đang có hành vi cất dấu 03 (Ba) gói chất bộ màu nâu (nghi là Heroine) với mục đích đem đi bán thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang; thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xám, có số IMEI 355498058385003 gắn thẻ Sim 0374.185.416; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng cát. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T, Cơ quan điều tra đã thu giữ 30 (ba mươi) gói chất bột màu nâu (nghi là Heroine) tại khu vực chuồng trâu gia đình Trần Văn T.
Ngày 18/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thành lập hội đồng tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu đi giám định và niêm phong lại. Tại Bản kết luận giám định số 687/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 23/6/2022 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận: “03 (ba) mẫu chất bột màu nâu (ký hiệu từ M1 đến M3) thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn T gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số chất bột màu nâu thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn T có tổng khối lượng là 0,175 g (không phẩy một trăm bảy mươi lăm gam).
“30 (ba mươi) mẫu chất bột màu nâu (ký hiệu từ M4 đến M33) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Văn T gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số chất bột màu nâu thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Văn T có tổng khối lượng là 1,540 g (một phẩy năm trăm bốn mươi gam).
Trong quá trình điều tra còn chứng minh được trong các ngày 14/6/2023, 16/6/2023 và ngày 17/6/2023 tại nhà của Trần Văn T ở thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T đã có hành vi bán cho Phạm Văn T4, sinh năm 1996; trú tại: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An 01 (một) gói Heroine với số tiền 200.000 đồng; bán cho Nguyễn Khắc T5, sinh năm 1997; trú tại: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An 01 (một) gói Heroine với số tiền 200.000 đồng; bán cho Phạm Văn S, sinh năm 1987; trú tại: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An 01 (một) gói Heroine với số tiền 200.000 đồng.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ 33 gói Heroine có tổng khối lượng 1,715 g (một phẩy bảy trăm mười lăm gam) đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Vật chứng còn lại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xám, có số IMEI 355498058385003 gắn thẻ Sim 0374.185.416; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng cát.
Bản cáo trạng số 83/CT -VKS ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”
Áp dụng: Điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 10 năm đến 11 năm tù. Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp cát tông niêm phong, dán kín mặt trước ghi: Vật chứng còn lại trong vụ Trần Văn T“ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bên trong phong bì có 01 (Một) vỏ phong bì thư; 01(Một) vỏ phong bì thư Công an huyện T niêm phong ban đầu; 33 (Ba mươi ba) vỏ giấy; 01 (Một) vỏ hộp nhựa màu trắng liên quan đến vụ án;
-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xám, đã qua sử dụng;
-Trả lại bị cáo Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng cát, đã qua sử dụng;
-Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 600.000đồng ( Sáu trăm ngàn đồng) là tiền do mua, bán ma tuý mà có tại bị cáo Trần Văn T.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với với vật chứng thu được; lời khai người làm chứng; phù hợp bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 14/6/2023, 16/6/2023 và ngày 17/6/2023 tại nhà của Trần Văn T ở thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T đã có hành vi bán trái phép cho Phạm Văn T4, sinh năm 1996: trú tại: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An 01 (Một) gói Heroine với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn); Bán cho Nguyễn Khắc T5, sinh năm 1997; trú tại: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An 01 (Một) gói Heroine với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn); Bán cho Phạm Văn S, sinh năm 1987; Trú tại: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An 01 (Một) gói Heroine với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn).
Đến 06 giờ ngày 18/6/2023, tại thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, khi Trần Văn T đang có hành vi cất dấu 03 (Ba) gói Heroine có khối lượng 0,175 g (Không phẩy một trăm bảy mươi lăm gam)với mục đích để bán thì bị tổ Công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T đã thu giữ 30 (Ba mươi) gói Heroine có khối lượng 1,540 g (Một phẩy năm trăm bốn mươi gam) mà Trần Văn T cất dấu với mục đích để bán. Như vậy tổng khối lượng H3 mà Trần Văn T cất dấu để bán là 1,715 g (Một phẩy bảy trăm mười lăm gam). Bị cáo Trần Văn T phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm, đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương do đó cần thiết phải lên một mức
án nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân xấu, ngày 09/01/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong Bản án ngày 09/01/2015; Ngày 16/9/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Ngày 13/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 30/4/2022, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung hình phạt.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo; bố đẻ bị cáo ông Trần Đình Y là người có công với nước được tặng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó Hội đồng xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) hộp cát tông niêm phong, dán kín mặt trước ghi: Vật chứng còn lại trong vụ Trần Văn T “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bên trong phong bì có 01 (Một) vỏ phong bì thư; 01(Một) vỏ phong bì Công an huyện T niêm phong ban đầu; 33 (Ba mươi ba) vỏ giấy; 01 (Một) vỏ hộp nhựa màu trắng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xám, đã qua sử dụng, bị cáo dùng để liên lạc trong việc mua, bán ma tuý, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng cát, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, do đó trả lại chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với số tiền 600.000đồng (Sáu trăm ngàn đồng) mà bị cáo Trần Văn Trung t lợi bất chính từ việc bán ma tuý cho Phạm Văn T4, Nguyễn Khắc T5 và Phạm Văn S truy thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai của Trần Văn T thì Nguyễn Trí T2 là người đã bán ma túy cho Trần Văn T. Các đối tượng Phan Việt H2 và Phạm Đình T3 là người mua ma tuý của T. Tuy nhiên trong quá trình điều tra Nguyễn Trí T2, Phan Việt H2 và Phạm Đình T3 không có
mặt tại địa phương, ngoài lời khai của Trần Văn T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác, do đó Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau là đúng pháp luật.
Đối với Phạm Văn T4, Nguyễn Khắc T5 và Phạm Văn S là người mua ma tuý của Trầ Văn T6 để sử dụng và đã sử dụng hết số ma tuý đó, do đó cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Văn T4, Nguyễn Khắc T5 và Phạm Văn S về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đã chuyển hồ sơ đề nghị Công an huyện T xử lý hành chính các đối tượng này về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b,q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Trần Văn T 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2023.
- Xử lý vật chứng:
- -Tịch thu tiêu huỷ 01 hộp cát tông niêm phong, dán kín mặt trước ghi: Vật chứng còn lại trong vụ Trần Văn T “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bên trong phong bì có 01 (Một) vỏ phong bì thư; 01(Một) vỏ phong bì Công an huyện T niêm phong ban đầu; 33 (Ba mươi ba) vỏ giấy; 01 (Một) vỏ hộp nhựa màu trắng liên quan đến vụ án;
- -Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xám, đã qua sử dụng;
- - Trả lại bị cáo Trần Văn T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng cát, đã qua sử dụng;
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an)
- -Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 600.000đồng (Sáu trăm ngàn đồng) tại bị cáo Trần Văn T.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Thanh Chương; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Công an huyện Thanh Chương; - Bị cáo; - UBND xã Thanh Hà, H.T/Chương, (thay thông báo); -Lưu HSVA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Dũng |
Bản án số 82/2023/HSST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 82/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Trần Văn T mua bán trái phép chất ma tuý
