Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 81/2024/HSST

Ngày 22/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hồng Sơn – Giáo viên, Hiệu trưởng Trường THCS phường Hồ, thị xã Thuận Thành.
  2. Bà Vũ Thị Lan Anh – Nguyên Hiệu trưởng Trường THCS phường An Bình, thị xã Thuận Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tiến hành tố tụng phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B và điểm cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 8 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Quách Văn H, sinh năm 2004.

    Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

    HKTT: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

    Tạm trú: Khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 3/12. Họ tên bố: Quách Gia N, sinh năm 1966. Họ tên mẹ: Trương Thị C, sinh năm 1964 (đã chết). Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

  2. Bị cáo Nguyễn Thanh L, sinh ngày 08/11/2006.

    Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

    HKTT: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Tạm trú: Khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Họ tên bố: Nguyễn Minh V, sinh năm 1983. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1983. Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

  3. Bị cáo Nguyễn Bá N1, sinh năm 1992.

    Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

    HKTT và chỗ ở: Khu phố C, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Họ tên bố: Nguyễn Bá T, sinh năm 1967. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N2, sinh năm 1969. Vợ: Bế Thị T1, sinh năm 2000. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024.

    Tiền sự: Không.

    Tiền án: Tại Bản án số 94/2021/HSST ngày 02/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh, N1 bị xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Đến ngày 30/8/2022, chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B).

Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Hoàng Nhật H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt tại điểm cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B)

Người đại diện cho bị cáo L:

Ông Nguyễn Minh V, sinh năm 1983 (bố bị cáo L – đề nghị vắng mặt).

HKTT: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Bế Thị T1, sinh năm 2000. (có mặt tại điểm cầu Tòa án)

Cư trú: Khu phố Chợ, phường An Bình, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại phòng ngủ gác xép tầng 2 của cửa hàng Đ ở khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh do anh Nguyễn Hữu N3, sinh năm 1991, ở xóm C, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh làm chủ. Anh N3 thuê Quách Văn H, sinh năm 2004, HKTT: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa và Nguyễn Thanh L, sinh ngày 08/11/2006, HKTT: Xóm L, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ làm thuê và giao cho H, L quản lý phòng ngủ trên. Tổ công tác của Công an thị xã T làm nhiệm vụ tuần tra đã phát hiện và bắt quả tang H và L đang có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Thu giữ vật chứng trên thảm nhựa trải giáp tường phía Bắc trong phòng ngủ, gồm: 01 chai nhựa có chữ zozo, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen; 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen trắng, phần đầu ống hút gắn coóng thủy tinh, bên trong coóng thủy tinh có chứa chất màu nâu đen và các cục chất màu hồng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1); 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bật lửa ga màu đỏ, không có tấm chắn kim loại, tại phần phát lửa có gắn 01 đoạn ống kim loại; 01 điện thoại nhãn hiệu PocoM3, màu đen, lắp sim số 0973.387.622 và 0356.522.132 của H; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có 01 gói nilon màu trắng, bên trong gói nilon này có chứa chất tinh thể màu trắng và các cục màu hồng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2).

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định, sau đó đưa H, L cùng vật chứng về bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T để giải quyết theo thẩm quyền. Tiến hành kiểm tra nước tiểu của H và L kết quả trong cơ thể của H và L dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tiến hành lấy lời khai của H. H khai nhận chất tinh thể màu trắng và các cục màu hồng là ma túy đá và ma túy ngựa của H và L cùng góp tiền mua để sử dụng. Số ma túy này, Huỳnh mua của Nguyễn Bá N1, sinh năm 1992, HKTT: Khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và dụng cụ sử dụng ma túy là của N1 mang đến.

Căn cứ lời khai của H, ngay trong ngày 02/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Bá N1 tại khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ 01 bao tải dứa màu vàng để trên giá để đồ kê giáp tường phía Bắc tại phòng để đồ tầng 2 (cạnh phòng ngủ của N1), bên trong bao tải dứa gồm có: 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng mảnh giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong có bám dính chất màu đen và 01 ống hút nhựa màu đen, vị trí đầu ống hút được gắn 01 mảnh giấy bạc được cuốn thành hình ống, bên trên mảnh giấy bạc bám dính chất màu trắng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3); 01 chai thủy tinh màu nâu, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ được gắn ống hút nhựa màu xanh, được cuốn ngoài bằng băng dính màu xanh; 01 ống hút nhựa màu đen; 01 ống hút nhựa màu tim và 01 ống hút nhựa màu trắng.

Cùng ngày, Nguyễn Bá N1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đầu thú, khai nhận về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mục đích để sử dụng cho bản thân, đồng thời tự giác giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen, lắp sim số 0365.510.512 và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung M20, màu xám lắp sim số 0396.135.681. N1 khai điện thoại P là cùa bị cáo, còn điện thoại Samsung M20 bị cáo mượn của chị Bế Thị T1, là vợ của bị cáo.

Tại bản Kết luận giám định số 946/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất tinh thể mầu nâu đen và cục chất màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1863 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine; Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,0778 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine; Các cục chất màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,0437 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. Chất màu nâu đen bám dính trên 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M3 gửi giám định có khối lượng là 0,0265 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine; Chất màu trắng bám dính trên 01 mảnh giấy bạc được cuốn thành ống bên trong phong bì thư ký hiệu M3 gửi giám định có khối lượng là 0,0106 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cơ quan CSĐT các bị cáo H, bị cáo L và bị cáo N1 khai nhận như sau:

+ Bị cáo Huỳnh khai: Huỳnh bắt đầu sử dụng ma túy đá, ma túy ngựa từ tháng 3/2023. H và L cùng làm thuê sửa chữa và bán điện thoại tại cửa hàng điện thoại Azo do anh Nguyễn Hữu N3 làm chủ. Huỳnh và L được anh N3 giao cho quản lý cửa hàng và ở tại phòng ngủ gác xép tầng 2 của cửa hàng. Trong thời gian ở cửa hàng H2 và L đã có một vài lần rủ nhau góp tiền mua ma túy đá, ma túy ngựa sau đó mang về sử dụng tại phòng ngủ gác xép.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, H rủ L cùng nhau góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng, L đồng ý. H và L thống nhất mua 300.000 đồng ma túy đá, 100.000 đồng ma túy ngựa và mỗi người góp 200.000 đồng nhưng H sẽ ứng tiền trước để mua ma túy. Do trước đó H đã có lần mua ma túy đá và ma túy ngựa của N1 nên H đã sử dụng tài khoản Zalo được đăng nhập bằng số điện thoại 0365.522.xxx, tên hiển thị “Gia Huỳnh” của H nhắn tin “31” đến tài khoản Zalo có tên hiển thị “Bố Cu Bon” của N1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa. Nhâm đồng ý.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, trong lúc H đang ở trong nhà vệ sinh thì nghe thấy tiếng của N1 gọi H, Huỳnh h là N1 mang ma túy đá, ma túy ngựa đến bán cho H. Một lúc sau H đi ra thì thấy N1 đi lên phòng ngủ của H ở gác xép tầng 2 và thấy xe mô tô của N1 đang dựng ở cửa sau của cửa hàng. Khoảng 05 phút sau, H đi lên phòng ngủ thì thấy N1 đi ra khỏi phòng và nói với H “Đồ anh để ở trong hộp đấy, anh bỏ một ít ra chơi trước rồi” và bảo H bán cho N1 01 cục pin điện thoại nhưng H bảo chưa có nên N1 đi về. Khi vào trong phòng ngủ, Huỳnh quan sát thấy bên trong coóng thủy tinh để ở trên thảm nhựa có ma túy. Thấy vậy, H dùng bật lửa đốt nóng coóng thủy tinh cho ma túy đá, ma túy ngựa tan chảy rồi hít khói ma túy. Sau khi hít được 02 khói ma túy thì H có mở 01 hộp giấy để ở trên thảm nhựa ra thì thấy bên trong hộp giấy có 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong hộp nhựa màu trắng có 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon này có chứa chất tinh thể màu trắng. Huỳnh biết đó là ma túy đá, ma túy ngựa. Sau đó, H tiếp tục sử dụng ma túy bên trong coóng thủy tinh. Khi H vừa sử dụng ma túy xong thì L đi vào phòng và dùng bật lửa ga màu đỏ trước đó H vừa sử dụng để đốt nóng coóng thủy tinh cho ma túy đá, ma túy ngựa tan chảy, bốc khói rồi hít khói ma túy. Khi L đang sử dụng ma túy thì Huỳnh đi xuống trông cửa hàng, còn L ở trong phòng ngủ tiếp tục lấy ma túy trong hộp giấy nêu trên để sử dụng.

+ Bị cáo L khai: Luyến cũng đã sử dụng ma túy từ khoảng cuối năm 2003. Luyến thừa nhận ngày 02/4/2024 có cùng với Huỳnh b và góp tiền để chung mua ma túy về sử dụng tại phòng ngủ gác xép tầng 02 của cửa hàng điện thoại. Khi L đang sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác của Công an thị xã T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng và tiến hành lập biên bản.

Quá trình điều tra, H và L đều khai nếu không bị bắt, H và L sẽ tiếp tục sử dụng hết số ma túy còn lại. L khai quá trình sử dụng ma túy thì H là người dùng bật lửa ga đốt nóng coóng thủy tinh có chứa ma túy để cho L sử dụng. Tuy nhiên, H không thừa nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tiến hành đối chất nhưng H và L vẫn giữ nguyên lời khai.

+ Đối với Nguyễn Bá N1 khai: Nhâm sử dụng ma túy đá, ma túy ngựa từ đầu năm 2020. Khoảng 14 giờ ngày 02/4/2024, N1 có đến cửa hàng điện thoại A gặp H để nhờ H đi mua cho N1 01 cục sạc pin điện thoại Oppo. Huỳnh hẹn chiều đi lấy hàng sẽ lấy cho N1 nên N1 đi về. Nhâm xác nhận ngày 02/4/2024, H có nhắn tin vào Zalo có tên hiển thị “Bố cu Bon” của N1 hỏi mua ma túy nhưng N1 không có ma túy và cũng không biết chỗ mua ma túy nên N1 không có ma túy bán cho H. Nhâm khẳng định ngày 02/4/2024, N1 không sử dụng ma túy tại cửa hàng Đ do H và L quản lý, N4 cũng không bán ma túy cho H như H đã khai.

Nhâm thừa nhận các đồ vật mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T thu giữ khi khám xét chỗ ở của N1 gồm: 01 chai thủy tinh màu nâu, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ được gắn ống hút nhựa màu xanh, được cuốn ngoài bằng băng dính màu xanh; 01 ống nhựa hút màu đen, 01 ống hút nhựa màu tím và 01 ống hút nhựa màu trắng là dụng cụ sử dụng ma túy do N1 tự chế; còn chất bám dính màu đen bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng mảnh giấy bạc màu trắng và bám dính chất màu trắng bên trên mảnh giấy bạc được cuốn tại đầu 01 ống hút nhựa màu là ma túy đá, ma túy ngựa do N1 mua về để sử dụng cho bản thân.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 81/CT-VKSTT ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố Quách Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ Luật hình sự. Truy tố Nguyễn Thanh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ Luật hình sự. Truy tố Nguyễn Bá N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo H, bị cáo L và bị cáo N1 vẫn khai nhận đúng như nội dung các bị cáo đã khai tại Cơ quan Điều tra, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình mà Cáo trạng đã truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Bị cáo H, bị cáo L khai đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất mua ma túy về chỗ ở của mình để sử dụng. Sau đó thì H đã liên lạc mua ma túy của bị cáo N1. H khai ma túy cũng như công cụ để sử dụng ma túy là do N1 đem đến cửa hàng, nhưng phía bị cáo N1 không thừa nhận. Bị cáo L khai khi L lên phòng để sử dụng ma túy là do H bật lửa đốt thuốc để L sử dụng, nhưng H cũng không thừa nhận. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa không có căn cứ để xác định được việc N1 bán ma túy và chuẩn bị công cụ cho H và L sử dụng ma túy. Cũng không xác định được việc H có hành vi bật lửa đốt thuốc tạo điều kiện cho L sử dụng ma túy.

Tại phiên tòa chị Bế Thị T1 trình bày chiếc điện thoại hiệu Samsung M20, màu xám lắp sim số 0396.135.681 mà bị cáo N1 đem giao nộp cho Cơ quan điều tra là của chị cho bị cáo N1 mượn để sử dụng. Chị T1 đề nghị được lấy lại chiếc điện thoại cùng sim số.

Tại phiên tòa sau khi tiến hành tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, căn cứ kết quả xét hỏi lại tại phiên tòa và căn cứ Điều 319 và Điều 325 Bộ luật tố Tụng Hình sự đã kết luận các bị cáo Quách Văn H, bị cáo Nguyễn Thanh L không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mà phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do lượng ma túy mà bị cáo H, bị cáo L tàng trữ tại chỗ ở của mình theo kết luận giám định có khối lượng là 0,3078 gam; Loại ma túy Methamphetamine. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố đối với bị cáo H và bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự. Đối với bị cáo H đã trên 18 tuổi, bị cáo đã có hành vi khởi xướng, rủ rê bị cáo L cùng thực hiện hành vi phạm tội khi bị cáo L chưa đủ 18 tuổi.

Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo và căn cứ Điều 319 và Điều 325 Bộ Luật tố tụng hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H, bị cáo L và bị cáo N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ Luật hình sự, xử phạt Quách Văn H từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 3/4/2023. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ Luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh L từ 12 tháng 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 3/4/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự, xử phạt Nguyễn Bá N1 từ 13 đến 19 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 3/4/2023. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật chứng là ma túy còn lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy số dụng cụ mà các bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Poco M3 thu giữ của bị cáo H, tịch thu tiêu hủy sim số 0973.387.622 và sim số 0356.522.132. Trả lại bị cáo N1 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen, lắp sim số 0365.510.512. Trả lại chị T1 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung M20 màu xám, lắp sim số 0396.135.681.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo L nhất trí với việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX kết luận tội danh nhẹ hơn cho bị cáo L và không có ý kiến tranh luận gì. Tuy nhiên do bị cáo L là người chưa thành niên phạm tội, quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo lại là người dân tộc thiểu số sống ở vùng miền núi việc nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng các quy định Bộ Luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để xem xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo H, bị cáo L nhất trí với việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX kết luận tội danh nhẹ hơn cho các bị cáo và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo N1 nhận tội, không tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Đối đáp lại ý kiến bào chữa của người bào chữa. Kiểm sát viên tranh luận việc Viện kiểm sát đưa mức án phạt đối với bị cáo L cũng như các bị cáo khác là đã đánh giá toàn bộ các tình tiết của vụ án, đánh giá tính chất, nhân thân của các bị cáo để đưa ra mức án phù hợp với các bị cáo. Đối đáp lại người bào chữa và Kiểm sát viên đều giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã trình bày.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về việc thực hiện trình tự tố tụng đối với vụ án:

    Quá trình thực hiện thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người liên quan, của người chứng kiến, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:

    Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại phòng ngủ gác xép tầng 02 của cửa hàng Đ ở khu phố G, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh do anh Nguyễn Hữu N3 làm chủ, nhưng anh N3 đã giao cho Quách Văn H và Nguyễn Thanh L là người làm thuê quản lý phòng ngủ trên. Tổ công tác của Công an thị xã T đã phát hiện và bắt quả tang Quách Văn H và Nguyễn Thanh L có hành vi sử dụng chất ma tuý. Cụ thể xác định được H và L đã thống nhất rủ nhau mỗi người góp 200.000 đồng để mua 300.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa để sử dụng tại phòng ngủ chung của mình. Quá trình bắt quả tang, tổ công tác đã thu giữ toàn bộ dụng cụ sử dụng ma túy cùng khối lượng ma túy còn lại chưa sử dụng hết là 0,3078 gam, loại ma túy Methamphetamine. Qua tranh tụng tại phiên tòa chỉ xác định được việc H và L thống nhất thỏa thuận góp tiền mua ma túy để sử dụng tại phòng ngủ của H và L đang quản lý, mà không có căn cứ để xác định việc H và L có hành vi chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy để cho nhau sử dụng, không có căn cứ xác định H có hành vi bật lửa đốt thuốc cho L sử dụng. Do vậy tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX kết luận về tội danh nhẹ hơn cho các bị cáo H và L cụ thể từ tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” sang tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng với hành vi mà các bị cáo H, bị cáo L đã thực hiện.

    Như vậy có căn cứ để kết luận hành vi của H và bị cáo L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự.

    Đối với bị cáo N1 có hành vi tàng trữ 0,0371 gam ma túy Methaphetamine tại nơi ở với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tuy số ma túy Nhâm tàng trữ không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên bị cáo N1 ngày 02/12/2021 đã bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T) kết án 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Đến ngày 30/8/2022 bị cáo chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích. Do vậy hành vi lần này của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Về nguyên nhân, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội cũng như vai trò của các bị cáo trong vụ án:

    Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, các bị cáo đều là người nghiện ma tuý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy đều với mục đích sử dụng cho bản thân.

    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, về sâu xa nó cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác cũng như để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Các bị cáo phạm tội nhóm tội phạm về ma túy là loại tội phạm mà cả xã hội đang lên án mạnh mẽ và tích cực đấu tranh. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục chung, cải tạo riêng.

    Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Quá trình các bị cáo H, L thực hiện hành vi phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ nên không có yếu tố tổ chức, mặc dù ban đầu các bị cáo có rủ nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng, trong qua trình sử dụng ma túy, các bị cáo không phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người mà thực hiện hành vi một cách bột phát, độc lập. Bị cáo H là người khởi xướng, rủ bị cáo L cùng góp tiền mua ma túy về sử dụng; là người đi mua ma túy. Bị cáo L tham gia với vai trò đồng phạm cùng thực hiện hành vi góp tiền mua ma túy nhưng giữ vai trò thứ yếu hơn bị cáo H. Bị cáo N1 thực hiện hành vi phạm tội độc lập đối với các bị cáo H, bị cáo L.

  4. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự nào. Đối với bị cáo N1 mặc dù đang có tiền án nhưng đây đã là tình tiết định tội đối với bị cáo nên không được tính là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo N1 cũng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào khác. Đối với H là người đã trên 18 tuổi, bị cáo rủ bị cáo L cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo L mới 17 tuổi 04 tháng 26 ngày (chưa đủ 18 tuổi). Vì vậy, bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo cũng đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho bản thân và xã hội khi sử dụng ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì thế các đều bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Bị cáo N1 đã đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.

    Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo là người nghiện ngập nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.

  5. Liên quan đến vụ án có:

    Đối với Nguyễn Bá N1 là người theo H khai đã bán ma túy cho H và mang dụng cụ sử dụng ma túy đến phòng ngủ của H và L tại phòng ngủ gác xép tầng 02 của cửa hàng điện thoại Azo ngày 02/4/2024 để sử dụng. Tuy nhiên, N1 không thừa nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tiến hành đối chất giữa N1 và H nhưng N1 và H vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ nào khác. Vì vậy, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tách các tài liệu liên quan ra, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau là phù hợp.

    Đối với anh Nguyễn Hữu N3 là chủ cửa hàng điện thoại nhưng không biết H và L sử dụng ma túy tại cửa hàng ngày 02/4/2024. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xem xét xử lý đối với anh N3 là phù hợp.

  6. Vật chứng của vụ án:

    Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, số vật chứng là công cụ để sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy. Tịch thu của bị cáo Huỳnh số tài sản có liên quan đến tội phạm là 01 điện thoại di động hiệu Poco M3 màu đen lắp sim số 0973.387.622 và sim số 0356.522.132, do Sim số không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Trả lại bị cáo N1 tài sản là điện thoại hiệu Philips màu đen cùng sim số 0365.510.512 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại chị T1 điện thoại hiệu Samsung M20 màu xám cùng sim số 0396.135.681 mà bị cáo N1 đã mượn.

  7. Về án phí: Các bị cáo H, L và N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Quách Văn H, bị cáo Nguyễn Thanh L và bị cáo Nguyễn Bá N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo H, bị cáo L); điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự (đối với bị cáo N1). Áp dụng điểm s khoản 1 (thêm khoản 2 đối với bị cáo N1) Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự (đối với bị cáo H). Áp dụng Điều 91, Điều 101 của Bộ Luật hình sự (đối với bị cáo L). Các Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106, Điều 136, Điều 319, Điều 325 và Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội (đối với các bị cáo H, L, N1), tuyên xử:

  1. Xử phạt Quách Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 3/4/2024.
  2. Xử phạt Nguyễn Bá N1 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 3/4/2024.
  3. Xử phạt Nguyễn Thanh L 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 3/4/2024.

Quyết định tiếp tục tạm giam các bị cáo H, bị cáo L và bị cáo N1 45 ngày kể từ ngày tuyên án 22/8/2024 để đảm bảo thi hành án.

  1. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm; 01 phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B có ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Quách Văn H sinh năm 2004, ở C, C, Thánh Hóa tàng trữ trái phép chất ma túy”; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bật lửa ga màu đỏ không có tấm chắn kim loại, tại đầu phần phát lửa có gắn 01 đoạn ống kim loại; 01 chai nhựa có chữ Zozo, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen trắng; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 chai thủy tinh màu nâu, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ được gắn ống hút nhựa màu xanh, được cuốn ngoài bằng băng dính màu xanh; 01 ống hút nhựa màu đen; 01 ống hút nhựa màu tím, 01 ống hút nhựa màu trắng.

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Poco M3 màu đen. Tịch thu tiêu hủy các sim số 0973.387.622 và sim số 0356.522.132 thu giữ của bị cáo H.

    Trả lại bị cáo N1 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen, lắp sim số 0365.510.512 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Trả lại chị T1 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung M20 màu xám, lắp sim số 0396.135.681.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2024 giữa Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

  1. Án phí: Bị cáo H, bị cáo N1 và bị cáo L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện cho bị cáo L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND thị xã Thuận Thành.
  • -Công an thị xã Thuận Thành.
  • -Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 81/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Quách Văn H cùng đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger