|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày: 14-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và ông Hoàng Xuân Tỵ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần K, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 15/02/1989, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số E L, Tổ A, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Minh H, sinh năm 1960 và bà Lê Thị X, sinh năm 1961; có vợ: Phạm Thị Thu T, sinh năm 1996 (đã ly hôn tháng 11/2023), có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/09/2012 bị Công an thị xã B (nay là Công an thành phố B), tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt hành chính số 1211/QĐ-XPHC, đã nộp phạt ngày 10/09/2012, đã được xóa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 20/02/2024 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 20/02/2024, Công an thành phố B phối hợp với Công an P, thành phố B tiến hành kiểm tra đối với Trần K đang đứng phía sau khu vực quầy lễ tân của khách sạn H2, địa chỉ số A, Nguyễn Công T1, Tổ F, Phường B, thành phố B. Qua kiểm tra, Công an thành phố B phát hiện trong túi phía trước bên phải quần Jeans mà Trần K đang mặc có 01 gói nylon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 04 x 3,5cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Công an thành phố B đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật nêu trên.
Quá trình điều tra, Trần K khai nhận: gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng K cất trong túi quần Jean là ma túy đá. Nguồn gốc số ma túy trên là do K mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch tên H1 tại khu vực đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng lúc 09 giờ 00 phút cùng ngày, với giá 1.000.000đ, sau đó K cất trong túi quần Jean đang mặc trên người rồi đến khách sạn H2 để gặp bạn đang thuê ở tại đây, khi đang đứng ở quầy lễ tân thì bị Công an thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: 01 gói nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,4614 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
Bản Cáo trạng số 81/CT-VKSBL, ngày 17 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần K từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ gồm:
- - 02 phòng bì niêm phong số 262/2024-PC09. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 quần Jean lửng màu xanh hiệu “NN.07 N”. Đây là tài sản của bị cáo K, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
- + Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Trần K đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung Kết luận giám định; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo là người sử dụng ma túy. Vào ngày 20/02/2024 tại khu vực quầy lễ tân khách sạn H2, địa chỉ 1 N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Trần K đã tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,4614 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Bị cáo thực hiện tội phạm nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo bị cáo đã bị xử phạt hành chính năm 2012, đã được xóa.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu. Ngoài ra, bị cáo có ông bà nội là Trần Đình C, bà Trần Thị T2 được Nhà nước tặng Bảng vàng danh dự, bố của bị cáo là ông Trần Minh H được UBND tỉnh Q công nhận là người có công thờ cúng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
[8] Phạt bổ sung: Bị cáo là người sử dụng ma túy nên miễn phạt bổ sung.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:
Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thu giữ gồm:
- - 02 phòng bì niêm phong số 262/2024-PC09. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 quần Jean lửng màu xanh hiệu “NN.07 N”. Đây là tài sản của bị cáo K, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên ghi nhận.
[10] Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên H1 là người đã cho Trần K ma túy để sử dụng. Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố B tách ra tiếp tục xác minh khi có căn cứ thì xử lý sau.
[11] Xét ý kiến phát biểu trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần K 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ gồm: 02 phòng bì niêm phong số 262/2024-PC09 và 01 quần Jean lửng màu xanh hiệu “NN.07 N”.
Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2024 giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ..., án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần K phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần K tàng trữ ma túy
