|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 79/2024/HSST Ngày 27/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Viết Tùng
Bà Đinh Thị Hân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn D, sinh năm 1996 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T1 ( đã chết); Anh chị, em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 04; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1950 ( đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- -Bà Phan Thị Q, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
- -Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- -Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- -Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- -Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- -Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người được những người đại diện hợp pháp của bị hại uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người được uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
Ông Trần Văn T, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn D là người có Giấy phép lái xe hạng A1 được Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 05/5/2016. Vào khoảng 17 giờ ngày 11/7/2024, sau khi tan ca làm việc ở công ty V ở huyện H, tỉnh Nghệ An, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 37V1-7749 đi về nhà. Khi đi đến Km 70+400 Quốc lộ D, thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, phát hiện phía trước có xe mô tô mang BKS: 37K6- 3270 do ông Nguyễn Văn D1 (sinh năm 1950, trú tại thôn D, xã T) điều khiển di chuyển cùng chiều, ở phần đường bên phải, đi gần sát với vạch sơn màu vàng kẻ giữa lòng đường với tốc độ chậm. Thấy phần đường bên phải ông D1 còn rộng, nên D điều khiển xe vượt lên bên phải xe ông D1 điều khiển. Khi D điều khiển xe đi gần ngang với xe của ông D1, lúc này ông D1 điều khiển xe rẽ sang phải. Do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý nên xảy ra va chạm, phần trước đầu xe mô tô của D va chạm với tay phanh, tay nắm lái bên phải xe mô tô do ông D1 điều khiển. Hậu quả ông Nguyễn Văn D1 bị thương, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N, đến ngày 14/7/2024 tử vong. Trần Văn D bị thương, hai xe bị hư hỏng.
Ngày 12/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường.
Ngày 14/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm tử thi; Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N giám định nguyên nhân chết đối với ông Nguyễn Văn D1.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 52/KLTTHS-TTPY ngày 31/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: Nạn nhân Nguyễn Văn D1 (sinh năm 1950, trú tại thôn D, xã T) tử vong do suy tuần hoàn, suy hô hấp/ chấn thương sọ não.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm phương tiện mô tô mang BKS: 37K6 - 3270 và xe mô tô mang BKS: 37V1- 7749; đã tiến hành dựng lại hiện trường, thu thập dấu vết, điều tra làm rõ vụ tai nạn.
Ngày 29/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 822/QĐ-CSĐT(ĐTTH) Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định dấu vết cơ học vụ tai nạn giao thông nói trên.
Tại bản kết luận giám định số 235 /KL-KTHS(DVCH) ngày 12/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“1. Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô BKS 37V1-7749 di chuyển trên đường Q theo hướng từ thôn E, xã T, huyện T, đi thôn C, xã T, huyện T. Xe mô tô BKS 37K6 - 3270 di chuyển theo hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước so với chiều hướng di chuyển của xe mô tô BKS37V1-7749.
2. Xe mô tô BKS 37V1-7749 có va chạm với xe mô tô BKS37K6 – 3270. Vị trí va chạm đầu tiên:
- - Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Q theo hướng từ thôn E, xã T, huyện T, đi thôn C, xã T, huyện T.
- - Trên xe mô tô BKS 37V1-7749: Ở mặt trước bên trái mặt nạ xe.
- - Trên xe mô tô BKS37K6 - 3270: Ở tay phanh, tay nắm lái bên phải.
3. Không xác định được tốc độ di chuyển của mô tô BKS 37V1-7749 và xe mô tô BKS 37K6 - 3270 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.”
Ngày 05/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra các Yêu cầu định giá tài sản số 1385/YC-CSĐT và 1386/YC-CSĐT gửi Hội đồng định giá tài sản trong tụng hình sự huyện T tiến hành định giá thiệt hại của các xe liên quan trong vụ tai nạn.
Tại các bản Kết luận định giá tài sản số 39/KL-ĐG và số 40/KL-ĐG, cùng ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị công sửa chữa và phụ tùng thay thế để phục hồi nguyên trạng của xe mô tô BKS 37V1- 7749 là 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi ngàn đồng); của xe mô tô BKS 37K6 - 3270 là 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi ngàn đồng).
Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ: 01 chiếc xe mô tô BKS 37V1-7749; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Trần Văn T; 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Văn D. 01 (một) xe mô tô BKS37K6 - 3270; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn H1; 01 (một) bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mang tên Nguyễn Văn D1. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển giấy phép lái xe Trần Văn D kèm theo hồ sơ vụ án, còn các vật chứng khác đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Về phần dân sự: Sau khi sự việc xẩy ra bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 100.000.000 đồng, nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì về dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T, anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 75/VKS -HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Trần Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Trần Văn D từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo, trả lại bị cáo Trần Văn D 01 giấy phép lái xe hạng A1 số No 790163090380 do Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2016 mang tên Trần Văn D.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn D đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 100.000.0000 đồng ( Một trăm triệu).Nay những người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Anh Nguyễn Văn H1 bị thiệt hại hư hỏng về tài sản là chiếc xe mô tô BKS 37K6 - 3270 gồm tiền công sửa và phụ tùng thay thế với số tiền là 230.000đồng; Ông Trần Văn T bị thiệt hại hư hỏng về tài sản là chiếc xe mô tô BKS 37V1 – 7749 gồm tiền công sửa và phụ tùng thay thế với số tiền là 840.000đồng, nhưng ông T anh H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Trần Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp cho bị hại đã được bồi thường số tiền 100.000.0000 đồng (Một trăm triệu).Nay những người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Ông Trần Văn T bị thiệt hại hư hỏng về tài sản là chiếc xe mô tô BKS 37V1 - 7749 gồm tiền công sửa và phụ tùng thay thế với số tiền là 840.000đồng, nhưng ông T không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; biên bản khám nghiệm tử thi; bản ảnh hiện trường; phù hợp với bản kết luận giám định tử thi; giám định phương tiện; kết luận định giá tài sản; phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 11/7/2024 tại Quốc lộ D tại Km 70+400, thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Văn D có giấy phép lái xe hợp pháp, điều khiển xe mô tô BKS 37V1- 7749 theo hướng Thôn D, xã T để đi về nhà mình thì phát hiện phía trước cùng chiều có xe mô tô mang BKS: 37K6- 3270 do ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1950, trú tại thôn D, xã T, huyện T điều khiển di chuyển ở phần đường bên phải, sát với vạch sơn kẻ giữa đường. Thấy phần đường bên phải ông D1 còn rộng, nên D điều khiển xe vượt lên bên phải xe ông D1, khi D điều khiển xe đi gần ngang với xe của ông D1, lúc này ông D1 điều khiển xe rẽ sang phải, do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý nên xảy ra va chạm, phần trước đầu xe mô tô của D với bên phải xe mô tô ông D1. Hậu quả ông Nguyễn Văn D1 bị thương, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N, đến ngày 14/7/2024 tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản khoản 11 Điều 8; khoản 1, khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp cho bị hại đã được bồi thường số tiền 100.000.0000 đồng (Một trăm triệu).Nay những người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Văn H1 bị thiệt hại hư hỏng về tài sản là chiếc xe mô tô BKS 37K6 - 3270 gồm tiền công sửa và phụ tùng thay thế với số tiền là 230.000đồng, Ông Trần Văn T bị thiệt hại hư hỏng về tài sản là chiếc xe mô tô BKS 37V1 - 7749 gồm tiền công sửa và phụ tùng thay thế với số tiền là 840.000đồng, nhưng ông T, anh H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Xét thấy không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo, do đó trả lại bị cáo Trần Văn D 01 giấy phép lái xe hạng A1 số No 790163090380 do Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2016 mang tên Trần Văn D.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Tuyên bố bị cáo: Trần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Xử phạt: Trần Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trả lại bị cáo Trần Văn D 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1 số No 790163090380 do Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/5/2016 mang tên Trần Văn D.(Có tại hồ sơ vụ án)
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Dũng |
Bản án số 79/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 79/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Trần Văn D vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
