Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số 78/2024/HSST

Ngày 22/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Dũng, ông Nguyễn Đình Quế.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Danh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B. Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 8 tháng 8 năm 2024 đối với:

Bị cáo Bùi Văn Q, sinh năm 1989.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

HKTT: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Bùi Văn C, sinh năm 1952. Họ và tên mẹ: Phùng Thị H, sinh năm 1955. Vợ: Phạm Thị H1, sinh năm 1990 (đã ly hôn). Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 12 ngày 18/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Bùi Văn Q 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành nộp án phí, và ra tù ngày 2/9/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ tin học Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, cán bộ dẫn giải Công an thị xã T.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, tại quán nước nhà bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966 ở khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác Công an thị xã T bắt quả tang đối tượng Bùi Văn Q, sinh năm 1989 có HKTT: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Q 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, phía trong túi nilon màu trắng bọc ngoài bao thuốc lá có 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột màu trắng. Q khai nhận chất bột màu trắng trong gói giấy bạc là ma túy Heroine do Q cùng đối tượng tên T1 mua về để sử dụng. Thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái Q đang mặc 01 bao thuốc lá Thăng Long, tại phía trong túi nilon màu trắng bọc ngoài bao thuốc lá có 01 mảnh giấy bạc có màu đốm nâu đen. Q khai đây là mảnh giấy bạc Q dùng để sử dụng ma túy heroine ngày 08/04/2024 tại địa điểm Quyết không nhớ rõ. Khi sử dụng xong ma túy, Q đã rửa sạch mảnh giấy bạc và gấp lại cất vào đó để sử dụng cho lần sau. Ngoài ra, Q tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh biển kiểm soát 99F1-663.46. Tổ công tác Công an thị xã T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 982/KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,1325 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine. Heroine là chất ma tuý được quy định tại Bộ Luật hình sự và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục tiền chất ma tuý và tiền chất.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 89/CT-VKSTT ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Q khai: Bản thân bị cáo đã nghiện ma túy loại Heroin từ năm 2016. Năm 2024, Q làm thuê tại lò mổ lợn của anh Đàm Thuận S, sinh năm 1978 ở thôn Đ, xã N, thị xã T. Quá trình làm thuê Q có quen biết đối tượng tên T1 khoảng 40 tuổi ở T, Bắc Ninh cũng là người nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 09/4/2024, T1 rủ Q sang T chơi, Q đồng ý rồi lấy xe mô tô biển kiểm soát 99F1-663.46 mà anh S để ở lò mổ cho công nhân dùng làm phương tiện đi lại, đi sang chùa P để đón T1. Sau khi gặp, T1 rủ Q đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng thì Q đồng ý. Sau đó, T1 liên hệ với người bán ma túy rồi chở Q đi mua ma túy. T1 chở Q đi đến quán nước nhà bà T và bảo Q "lát có người đưa đồ thì cầm". Q biết là T1 bảo Q nhận ma túy từ người bán ma túy nên đồng ý. Sau đó được một lát thì có một nam thanh niên khoảng 30 tuổi đi vào quán và đưa cho Q 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói "cầm lấy hàng". Q biết là người bán ma túy đưa ma túy cho nên cầm ở lòng bàn tay trái. Khoảng một lúc sau, tổ công tác Công an thị xã T vào kiểm tra, Q bỏ chạy rồi bị ngã ra đường, bao thuốc có gói ma túy ở lòng bàn tay trái rơi ra đường ngay trước mặt Q, cách bàn tay trái Quyết khoảng 10cm. Tổ công tác Công an thị xã T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. Bị cáo Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã quy kết là đúng.

Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự. Xử phạt Q từ 14 đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 9/4/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật chứng còn lại sau giám định.

Bị cáo Q nhận tội, không tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn Q không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn Q tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời chứng của những người chứng kiến việc bắt quả tang; phù hợp với vật chứng thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, tại quán nước nhà bà Nguyễn Thị Tkhu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác Công an thị xã T đã phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,1325 gam ma túy loại ma túy Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về nguyên nhân, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội:

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, bị cáo là người nghiện chất ma tuý nên đã có hành vi tàng trữ ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt, để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đối với bị cáo.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo cũng đã 01 lần bị Tòa án xét xử và kết án nhưng đã được xóa án tích nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm, bị cáo cũng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào khác. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho bản thân và xã hội khi sử dụng ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì thế bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đây là tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Xét thấy bị cáo đã 01 lần bị Tòa án kết án nhưng vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, khó cải tạo nên lần phạm tội này phải có mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất cũng như nhân thân xấu của bị cáo để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, điều kiện kinh tế cũng có khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5]. Liên quan đến vụ án có: Đối với đối tượng T1 và nam thanh niên bán ma túy theo Q khai. Do Q không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của đối tượng T1 và nam thanh niên bán ma túy. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 08/4/2024 của Q, do không xác định được vị trí, địa điểm nơi Q sử dụng ma túy. Vì vậy, ngày 07/7/2024, Công an thị xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC đối với Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

[6]. Tang vật vụ án: Mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ bao thuốc lá T2 đã thu giữ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 99F1-663.46 của anh Đàm Thuận S. Anh S trình bày anh mua chiếc xe trên để ở lò mổ cho anh em thợ đi lại và vận chuyển hàng hóa. Ngày 09/4/2024, Q tự ý lấy xe của anh để đi mua ma túy anh hoàn toàn không biết. Vì vậy, ngày 04/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 1107/QĐ-CSĐT, trả lại chiếc xe trên cho anh S là phù hợp. Anh S không có ý kiến, yêu cầu gì.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, tuyên xử.

  1. Xử phạt Bùi Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 9/4/2024.

    Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 22/8/2024 để đảm bảo thi hành án.

  2. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật chứng còn lại sau giám định trong 01 phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Bùi Văn Q, sinh năm 1989 HKTT: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ bao thuốc lá Thăng L (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
  3. Án phí: Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND thị xã Thuận Thành.
  • -Công an thị xã Thuận Thành.
  • -Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 78/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger