|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2023/DS-PT Ngày 21-12-2023 “V/v tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước;
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Phương;
Ông Trần Việt Trung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Thư ký TAND tỉnh Quảng Trị.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Trà Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DSST ngày 25/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71/2023/QĐXXPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ C, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố G, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phan Văn Q, sinh năm 1977, địa chỉ: Khu phố I, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố G, phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị P là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Khoảng tháng 7/2021, bà Võ Thị Mỹ C có chung vốn làm ăn với bà Nguyễn Thị P; số tiền bà C góp ở bà P là 70.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền cho bà P được vài tháng thì bà C có hỏi chuyện làm ăn thì bà P nói có việc riêng nên chưa thực hiện; bà C yêu cầu bà P trả lại số tiền góp vốn 70.000.000 đồng nhưng bà P nói không có tiền trả nên ngày 23/01/2022, bà P viết giấy hẹn trả tiền và cam kết trong năm 2022 bà P sẽ trả lại tiền cho bà C. Tuy nhiên, đến nay bà P vẫn không thực hiện việc trả tiền như đã cam kết. Do đó, bà C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P phải trả khoản tiền gốc 70.000.000 đồng, khoản tiền lãi chậm trả tính từ 01/01/2023 đến 30/6/2023 với lãi suất 0,833%/tháng là 3.500.000 đồng (70.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 6 tháng). Tổng cộng khoản tiền gốc và lãi 73.500.000 đồng.
- Theo văn bản trình bày ý kiến, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn trình bày:
Tháng 7/2021, bà Võ Thị Mỹ C có góp vốn cùng với bà Nguyễn Thị P để đầu tư chung CFD giao dịch F (ngoại hối); bà C đã góp cho bà P số tiền 70.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận lãi chia đều 50-50, không nhắc đến rủi ro. Việc làm ăn có lãi, bà P đã chuyển cho bà C khoảng 25.000.000 đồng tiền lãi. Tháng 01/2022, bà C đến nhà bà P yêu cầu bà P viết giấy hẹn trả tiền; tại thời điểm viết giấy hẹn trả tiền cho bà C, bà P không tỉnh táo do làm ăn thua lỗ nhiều dẫn đến stress và trầm cảm. Bà P cho rằng khoảng từ tháng 7/2021 đến 25/10/2021 bà P đã chuyển cho bà C số tiền 21.500.000 đồng gồm tiền lãi và một số tiền mà bà P vay của bà C (đến nay không nhớ rõ cụ thể). Ngày 23/01/2022, bà C đến nhà bà P nói chuyện nợ nần; do bà P sợ mọi người trong gia đình biết nên hẹn bà C đến nơi khác để nói chuyện, do đó bà P không đủ tính táo khi viết giấy hẹn trả tiền cho bà C. Trong nội dung giấy hẹn trả tiền, số chứng minh nhân dân, ngày tháng năm cấp và chữ ký bằng bút bi trong giấy hẹn trả tiền là viết sau, do bà C yêu cầu viết thêm nên bà P đã viết. Mặc dù bà P không trực tiếp giao dịch trên forex nhưng bị mất tiền vốn của bà C và bà P nên bà C phải chịu mất số tiền góp vốn trên. Đề nghị Tòa án bác yêu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ C.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 235, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274; Điều 280; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C: Buộc bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Mỹ C số tiền 73.500.000 đồng; trong đó: Tiền gốc 70.000.000 đồng, tiền lãi 3.500.000 đồng theo giấy hẹn trả tiền giữa bà Võ Thị Mỹ C và bà Nguyễn Thị P lập ngày 23/01/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị P kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà với nội dung: Quyết định trong bản án sơ thẩm thiếu chứng cứ, tồn tại nhiều vấn đề mâu thuẫn, chưa rõ ràng và không có căn cứ pháp lý, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo đúng quy định của pháp luật và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 274, Điều 280, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.
- Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị đơn bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự thì bị đơn bà Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo và việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn quy định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Xác định quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo giấy hẹn trả tiền lập ngày 23/01/2022 giữa bà Võ Thị Mỹ C và bà Nguyễn Thị P nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[1.3] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị P1 có nơi cư trú tại khu phố G, phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P với nội dung cho rằng bản án sơ thẩm thiếu chứng cứ, tồn tại nhiều vấn đề mâu thuẫn, chưa rõ ràng và không có căn cứ pháp lý, nên đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C. Hội đồng xét xử thấy rằng: Xem xét giấy hẹn trả tiền lập ngày 23/01/2022 đã ký kết giữa bà Võ Thị Mỹ C với bà Nguyễn Thị P, tại nội dung giấy hạn trả tiền thỏa thuận “Khoảng từ thời gian tháng 7 năm 2021; bà P và C có chung vốn để làm ăn. Trong đó có 70.000.000 đồng của bà Võ Thị Mỹ C. Thời điểm hiện tại bà P đang có việc gia đình và nhiều nguyên nhân khác nên chưa thể hoàn trả lại số tiền trên cho bà C. Trong năm 2022 này bà P sẽ chuyển và trả số tiền trên cho bà Võ Thị Mỹ C bằng hình thức chuyển khoản và tiền mặt (một lần hoặc nhiều lần). Nếu không thực hiện đúng tôi sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Như vậy, ngày 23/01/2022, bà P tự viết giấy hẹn trả nợ cho bà C là thể hiện ý chí của bà P đồng ý trả lại số tiền đầu tư cho bà C 70.000.000 đồng, bà P cho rằng khi bà C đến nhà bà P yêu cầu bà P viết giấy hẹn trả tiền thì tại thời điểm viết giấy hẹn trả tiền, bà P không tỉnh táo do làm ăn thua lỗ nhiều dẫn đến stress và trầm cảm nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh; tại thời điểm bà P viết giấy hẹn nợ cho bà C và hai bên xác nhận số tiền bà P phải trả cho bà C là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn căn cứ giấy hẹn trả nợ lập ngày 23/01/2022 đã ký kết giữa bà C với bà P để buộc bà P phải trả cho bà C số tiền gốc 70.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với số tiền lãi: Theo thỏa thuận trong giấy hạn nợ ngày 23/01/2022 thì bà P cam kết trả khoản tiền gốc 70.000.000 đồng trong năm 2022. Tuy nhiên, bà P không thực hiện như cam kết nên bà C yêu cầu bà P trả khoản tiền lãi từ 01/01/2023 đến 30/6/2023 với mức lãi suất 0,833%/tháng phù hợp quy định của pháp luật; do đó khoản tiền lãi mà bà P phải trả cho bà C là 3.500.000 đồng (70.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 6 tháng).
[3] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ C, buộc bà Nguyễn Thị P phải có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Mỹ C số tiền gốc và lãi 73.500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P không được chấp nhận nên bà P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P, giữ nguyên bản án sơ thẩm 42/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí; tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ C: Buộc bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Mỹ C số tiền 73.500.000 đồng (Bảy mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng); trong đó: Tiền gốc 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), tiền lãi 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) theo giấy hẹn trả tiền đã ký kết giữa bà Võ Thị Mỹ C và bà Nguyễn Thị P lập ngày 23/01/2022.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, mà bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí:
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0000015 ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành dân sự thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Bà P đã nộp đủ).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Phước |
CÁC THẨM PHÁN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
T
Bản án số 74/2023/DS-PT ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Số bản án: 74/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
