TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2023/HS-ST Ngày 06 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Hồng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Hồng Diện |
| Ông Lăng Đức Quang. |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Chung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Công S, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1967 tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn M, xã K, huyện B, tỉnh Hà Giang; Số CCCD [...], cấp ngày 24/6/2022 tại Cục C về TTXH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Danh K (đã chết) và bà Đặng Thị H (đã chết); vợ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1988 (đã chết); con nhỏ nhất sinh năm 1990;
Tiền án: Có 3 tiền án.
- Tại Bản án số 12/2009/HSST, ngày 03/3/2009 bị TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 7 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 21/7/2013 chấp hành xong hình phạt tù.
- Tại Bản án số 27/2015/HSST, ngày 04/8/2015 bị TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 6 tháng tù về tội đánh bạc. Ngày 04/10/2015 chấp hành xong hình phạt tù.
- Tại Bản án số 31/2017/HSST, ngày 29/9/2017 bị TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 7 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 13/6/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Tại Bản án số 20/2005/HSST, ngày 07/6/2005 bị TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, thời gian thử thách là 42 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang, có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1962 “vắng mặt”;
- Ông Hoàng Ngọc V, sinh năm 1973 “vắng mặt”;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 36 phút ngày 24/06/2023, tổ công tác thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang thực hiện nhiệm vụ tại thôn M, xã K, huyện B phát hiện các đối tượng Nguyễn Văn H2 và Hoàng Ngọc V đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại vườn phía sau nhà Trần Công S. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác thu giữ 02 (hai) ống bơm kim tiêm (đã qua sử dụng), 01 (một) ống N (ống đã bị vỡ ở trên đầu ống, không có dung dịch bên trong). Quá trình làm việc, H2 và V khai nhận cả hai đang sử dụng ma túy heroine vừa mua của Trần Công S trước đó khoảng 15 phút cùng ngày.
Căn cứ lời khai của H2 và V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Công S tại thôn M, xã K. Trước khi khám xét, S tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine; số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) gồm 03 (ba) tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) và 01 (một) tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng); 01 (một) cân tiểu ly. Quá trình khám xét tại nơi ở của S không thu giữ được thêm đồ vật, tài liệu nào khác.
Quá trình điều tra, Trần Công S khai nhận: Do bản thân là người nghiện ma túy và không có công việc ổn định nên S nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán cho ai có nhu cầu để kiếm thêm thu nhập. Trước ngày 24/06/2023 khoảng một tuần, S đi xe khách xuống thành phố T, tỉnh Thái Nguyên chơi. Tại đây, S mua được 01 (một) gói ma túy heroine của một người đàn ông không quen biết với số tiền khoảng 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, S bắt xe khách đi về nhà và cất giấu số ma túy đó trong phòng ngủ với mục đích để sử dụng dần và bán cho ai có nhu cầu để kiếm lời. Khoảng 15 giờ ngày 24/06/2023, S đang ở nhà thì có Nguyễn Văn H2 và Hoàng Ngọc V, đến nhà, cả hai đi vào ngồi ở ghế trước nhà, lúc này H2 hỏi S "ông có đồ không bán cho một con" (ý H2 hỏi mua ma túy), S hiểu ý nên trả lời "có" và hỏi H2 lấy bao nhiêu thì H2 nói "lấy năm trăm nghìn". S đồng ý, H2 đưa cho S số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) gồm 03 (ba) tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) và 01 (một) tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), nhận được tiền, S lấy trong túi quần bên phải mình đang mặc 01 (một) gói dán băng dính màu đen, bên trong có gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine được chia từ số ma túy Sự mua ở Thái Nguyên đưa cho H2. Quá trình mua bán ma túy chỉ có S và H2 trao đổi với nhau, còn V ngồi ở bàn uống nước và không trao đổi gì. Sau khi trao đổi mua bán ma túy xong, S cầm tiền đi vào trong nhà, còn H2 và V đi ra ngoài và đi về phía khu đất ở sau vườn nhà S, sau đó H2 lấy 02 (hai) ống kim tiêm và 01 (một) ống N có từ trước pha với số ma túy vừa mua của S để sử dụng. Khi H2 và V vừa sử dụng xong thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phát hiện và lập biên bản làm việc.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Văn H2, Hoàng Ngọc V và Trần Công S. Kết quả tại thời điểm xét nghiệm, H2, V, S đều dương tính với ma túy loại Heroin.
Ngày 24/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng chất bột màu trắng nghi là ma túy đã thu giữ của Trần Công S xác định khối lượng là 0,154 gam (không phẩy một trăm năm mươi bốn gam) - Ký hiệu A, đồng thời ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 143, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh H giám định đối với chất bột nghi là ma túy thu giữ của Trần Công S có phải là ma túy không, loại ma túy gì?
Ngày 02/07/2023, Phòng K1 Công an tỉnh H ban hành Kết luận số 211/KL-KTHS, kết luận:
"Mẫu chất màu trắng dạng cục gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,154g (không phẩy một trăm năm mươi bốn gam).
Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Kèm theo kết luận giám định: không.
- Hoàn trả lại đối tượng giám định: hoàn trả lại cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B, tỉnh Hà Giang mẫu chất màu trắng dạng cục ký hiệu A còn lại sau giám định có khối lượng là 0,117g (không phẩy một trăm mười bảy gam), có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo".
Ngày 30/06/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 150, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh H giám định số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) gồm 04 (bốn) tờ tiền thu giữ của Trần Công S là tiền thật hay giả?
Ngày 04/07/2023, Phòng K1 Công an tỉnh H ban hành Kết luận giám định số 220, kết luận: "04 (bốn) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật".
Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 68ª/CT-VKSBQ ngày 03/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố Trần Công S về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Công S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công S từ 08 (tám) năm tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 24/06/2023). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng và án phí, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Công S thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, nhất trí với Bản luận tội của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ, lời khai của họ đầy đủ, rõ ràng và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Căn cứ định tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 24/06/2023 tại thôn M, xã K, huyện B, bị cáo bán trái phép ma túy cho Nguyễn Văn H2 với giá 500.000 đồng trước sự chứng kiến của Hoàng Ngọc V. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 0,154 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán và sử dụng. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra (Bút lục 124-125, 127-128, 130-133), phù hợp với lời khai của người làm chứng (Bút lục 134-137, 139-139), phù hợp với Biên bản khám xét (BL 04-05), phù hợp với Biên bản niêm phong (BL07), Biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu vật chứng gửi giám định (BL84), Kết luận giám định (BL91), Biên bản xác định hiện trường (BL101-102), Sơ đồ hiện trường (BL103), Bản ảnh hiện trường (BL104-111) cùng những chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, phản ánh trong hồ sơ và được thẩm tra xác minh tại phiên toà. Hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong khi đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tính mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
- Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Tái phạm nguy hiểm.
[6] Như vậy có đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo Trần Công S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[7] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền và thống nhất quản lý đối với chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện.
[8] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thân nhân của bị cáo là người có công với đất nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[10] Về nguồn gốc ma tuý: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Công S khai nhận nguồn gốc số ma tuý là mua của một người đàn ông nhưng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Công an đã tách các tài liệu liên quan khi làm rõ sẽ xử lý sau là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Căn cứ vào kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Trần Công S, Nguyễn Văn H2 và Hoàng Ngọc V trong vụ án, ngày 16/10/2023, Công an huyện B đã ra các Quyết định xử phạt hành chính đối với S, H2, V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý thu giữ của Trần Công S, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với những vật chứng là vỏ bao bì, 02 ông bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 ống NOVOCAIN đã bị vỡ, 01 cân tiểu ly, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng) bị cáo có được do bán trái phép ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[13] Về án phí: Bị cáo Trần Công S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật tố Tụng hình sự; Điều 3, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Công S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Công S 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 24/06/2023).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định, ký hiệu A”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.
- 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín mặt trước phong bì ghi chữ “vỏ bao gói, phong bì niêm phong cũ, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia và 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B".
- 02 (hai) ống bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
- 01 (một) ống NOVOCAIN, ống bị vỡ trên đầu ống, không có dung dịch bên trong.
- 01 (một) cân tiểu ly, đĩa cân bằng kim loại, cán cân bằng nhựa màu trắng, có hộp đựng cân bằng gỗ.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) được chuyển từ tài khoản tạm gửi số [...] của Công an huyện B mở tại Kho bạc Nhà nước huyện B sang tài khoản số 3949.0.1047740 của Chi cục THADS huyện B mở tại Kho bạc Nhà nước huyện B.
- Về án phí: Bị cáo Trần Công S phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang ngày 05/12/2023 và Biên lai thu số 0001404 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Hồng |
Bản án số 70/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Công S bị VKS truy tố về tội mau bán trái pháp chất ma tuý
