|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/DS-ST
Ngày: 19-11-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh đất; buộc tháo dỡ di dời công trình kiến trúc xây dựng trên đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Phong; bà Chế Thị Hồng Cẩm.
- Thư ký phiên tòa:
Trần Lê Ngọc Trân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thái Hòa - kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2023/TLST–DS ngày 02 tháng 11 năm 2023; về “tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh đất; buộc tháo dỡ di dời công trình kiến trúc xây dựng trên đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 10/2024/QÐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 24/2024/TBMPT.TA, ngày 04 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự;
-
Nguyên đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà K: Là anh Lê Hữu L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (Hợp đồng uỷ quyền ngày 19/7/2024).
-
Bị đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1973 Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang, (có mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông C: Là ông Ngô Văn S, sinh năm 1972. Địa chỉ: Đường N, tổ C, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (Hợp đồng uỷ quyền ngày 15/11/2023).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Bà Trần Thị K, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang;
- Anh Lê Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang;
- Chị Lê Thị V, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang;
- Chị Lê Thị Mộng T, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang;
- Chị Lê Thị Ngọc C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã L, huyện T, tỉnh An Giang;
- Anh Lê Hữu T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang;
- Anh Lê Hữu L, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà K, anh N, chị V, chị T, chị C1, anh T1: Là anh Lê Hữu L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (Hợp đồng uỷ quyền ngày 19/7/2024), (có mặt).
- Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H: Là ông Ngô Văn S, sinh năm 1972. Địa chỉ: Đường N, tổ C, khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (hợp đồng ủy quyền ngày 12/8/2024) (Có mặt)
- Anh Bùi Minh C2, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lê Hữu L trình bày: Ông Lê Văn N1 (chết năm 2022) và bà Trần Thị K có 06 người con gồm: Lê Văn N, Lê Thị V, Lê Thị Mộng T, Lê Thị Ngọc C1, Lê Hữu T1 và Lê Hữu L. Ông Lê Văn N1 là người đứng tên giấy CNQSDĐ số 02206/QSDĐ/hI tờ bản đồ số 17, thửa số 21, 22 với tổng diện tích 1.134,4 m² do UBND huyện T cấp ngày 30/6/2004. Vào năm 2023 ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị H tiến hành xây cất nhà và lấn sang phần đất với tổng diện tích 12,8m². Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu buộc ông C, bà H tháo dỡ, di dời một phần căn nhà chính của ông C, bà H có diện tích 10,7m² và một phần mái che tạm có diện tích 2,1m² để trả lại đất cho nguyên đơn. Về giá trị tài sản tranh chấp : Nguyên đơn thống nhất theo giá tổ chức thẩm định giá, chứng thư thẩm định số 384/2024/CT-VVAC, ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Công ty Cổ phần G – Chi nhánh H1, tại mục 8 trang 2 của chứng thư thẩm định giá. Về chứng cứ: Tại phiên tòa nguyên đơn không cung cấp bổ sung chứng cứ mới và không yêu cầu Tòa triệu tập thêm người làm chứng, đương sự khác, người tham gia tố tụng khác. Về chi phí tố tụng và án phí yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Bùi Văn C không có yêu cầu phản tố. Người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Ngô Văn S đại diện trình bày: Nguồn gốc thửa đất của ông C và bà H sở hữu, được cha mẹ ông C cho từ năm 1998 trong tổng diện tích 1.672,50m², tờ bản đồ số 17, thửa số 23 đứng tên Bùi Văn K1 (cha ông Chí). Năm 1999 ông C, bà H cất nhà tạm giáp với phần đất của ông Lê Văn N1. Đến ngày 09/11/2007 ông C, bà H được UBND huyện T cấp Giấy CNQSDĐ số H0988eI, diện tích 229,3m² thuộc tờ bản đồ số 17, thửa số 42. Vào năm 2017 ông C, bà H xây dựng căn nhà kiên cố trên phần đất cất nhà tạm trước đây. Đến năm 2023 do mưa to nước tràn xuống khu dân cư làm móng nhà có nguy cơ sạt lỡ, nên ông C dùng đất lấp lại thì bà K ngăn cản vì cho rằng ông C lấn chiếm đất. Tại phiên tòa, bị đơn đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn tương ứng với diện tích 12,8m² theo mức giá đã được thẩm định giá và được tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất như trên. Về giá trị tài sản tranh chấp, thống nhất theo giá tổ chức thẩm định giá, không có ý kiến. Về chứng cứ: không cung cấp bổ sung chứng cứ mới và không yêu cầu Tòa triệu tập thêm người làm chứng, đương sự khác, người tham gia tố tụng khác. Về chi phí tố tụng và án phí yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu độc lập, đều vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu ông C, bà H trả lại diện tích 12,8m². Ông C, bà H có nghĩa vụ thanh toán giá trị phần diện tích 10,7m² theo chứng thư thẩm định, ông C, bà H được quyền tiếp tục sử dụng 10,7m² và có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý lại Giấy CNQSDĐ hộ ông Lê Văn N1 không được quyền cản trở. Một phần diện tích mái che 2,1m² đây là phần phụ căn nhà nên buộc ông C, bà H phải tháo dỡ, di dời trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 2,1m² cho hộ ông Lê Văn N1. Về án phí ông C, bà H phải chịu án phí DSST theo quy định. Về chi phí tố tụng khác: ông C, bà H phải chịu các chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, tại thông báo thụ lý số 222/TB.TLVA ngày 03/11/2023 Tòa án xác định “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nhưng căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định đây là quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh đất; buộc tháo dỡ di dời công trình kiến trúc xây dựng trên đất”. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
- Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Chí C3 đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ và anh C3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
-
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của hộ ông Lê Văn N1 đối với diện tích 12,8m². Căn cứ giấy chứng nhận QSDĐ số 02206/QSDĐ/hI cấp ngày 30 tháng 6 năm 2004 cho hộ ông Lê Văn N1 thửa số 21, 22, tờ bản đồ số 17 với tổng diện tích 1.134,4m² tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang và Giấy chứng nhận QSDĐ số AG 082887, số vào sổ H0988eI cấp ngày 09 tháng 11 năm 2007 cho ông Bùi Văn C và bà Huỳnh Thị Hồng T2 số 42 tờ bản đồ số 17 với diện tích 229,3m² tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.
Nhận thấy, qua tài liệu chứng cứ tại hồ sơ đã thể hiện thửa đất 21, 22 và 42 có nguồn gốc rõ ràng các bên không có ý kiến về nguồn gốc đất nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Giữa ông C, bà H và hộ ông N1 sau khi được cấp quyền sử dụng đất và trong quá trình sử dụng thì không có khiếu nại cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất. Từ đó cho thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà K thửa 21, 22 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C và bà H thửa 42 là cấp đúng trình tự thủ tục và đúng đối tượng. Do đó, Căn cứ vào bản đồ hiện trạng khu đất của Công Ty TNHH Đ lập ngày 19/3/2024. Thể hiện vị trí tại các điểm 79, 4, 5, 6, 78 có diện tích 10,7m² thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 17 và các điểm 80, 78, 6, 7 có diện tích 2,1m² thuộc thửa đất số 21 tờ bản đồ số 17 là có căn cứ. Hội đồng xét xử, căn cứ vào Điều 174, Điều 175,Điều 246 và Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 12, Điều 166, Điều 171 Luật Đất đai năm 2013 thì ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị H đã vi phạm vào quy định của các Điều luật trên. Cho nên yêu cầu khởi kiện của hộ ông N1 gồm và K và các con bà K đối với 12,8m² thuộc thửa đất số 21 tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang là có cơ sở.
- Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29 tháng 01 năm 2024 (bút lục 64 - 65) thể hiện trên phần đất tranh chấp là gốc tường nhà ông Bùi Văn C.
- Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn cùng khai và xác nhận các công trình xây dựng trên đất tranh chấp là của ông C, bà H, hoàn toàn không có tài sản của hộ ông N1. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng ông C, bà H đã cất nhà kiên cố trên đất tại vị trí 79, 4, 5, 6, 78 có diện tích 10,7m², tại thời điểm giải quyết vụ án các vị trí trên gắn liền với nhu cầu sử dụng thực tế của ông C, bà H. Vì vậy, nếu buộc phải tháo dỡ, di dời tài sản thì gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng đến gia đình ông C, bà H, nên cần giao cho ông C, bà H tiếp tục được quyền sử dụng hợp pháp đối với 10,7m² tại các vị trí từ 79, 4, 5, 6, 78 bà K và các thành viên của hộ gia đình bà K không ai được quyền cản trở, đồng thời ông C, bà H phải có nghĩa vụ trả cho bà K giá trị quyền sử dụng đất của 10,7m² nêu trên theo giá đã thẩm định mà không có đương sự nào khiếu nại về việc thẩm định giá, với số tiền 33.244.900₫ (10,7m² x 3.107.000đ/m²). Việc đăng ký điều chỉnh diện tích đất 10,7m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 21 thì các đương sự có quyền, nghĩa vụ thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Riêng vị trí tại các điểm 80, 78, 6, 7 có diện tích 2,1m² thuộc thửa đất số 21 là một phần mái che của ông C, bà H đây là công trình phụ không gây ảnh hưởng đến toàn bộ kiến trúc căn nhà của ông C, bà H nên có căn cứ buộc ông C, bà H tháo dỡ, di dời một phần mái che để trả lại toàn bộ 2,1m² đất cho bà K và các thành viên của hộ gia đình bà K và ông C, bà H cùng anh C3 không ai được cản trở.
- Về chi phí tố tụng: Căn cứ tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên ông C, bà H phải chịu toàn bộ chi phí gồm: Tiền hợp đồng đo đạc 3.641.760₫ theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 19/03/2024 của Công Ty TNHH Đ; tiền thẩm định giá của Công ty Cổ phần T3 5.300.000đ theo biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 25/7/2024; tiền xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000đ theo bản quyết toán ngày 13/8/2024. Tổng chi phí: 10.941.760đ, bà K đã tạm ứng 10.941.760đ. Ông C, bà H có trách nhiệm hoàn lại cho bà K toàn bộ số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
- Về án phí, Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn bà K là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Ông C, bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 246, Điều 288 và Điều 579 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 166, Điều 171, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim đối V1 ông Bùi Văn C về diện tích 12,8m², thuộc thửa số 21, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.
Buộc ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị H trả cho hộ ông Lê Văn N1 gồm bà Trần Thị K, Lê Văn N, Lê Thị V, Lê Thị Mộng T, Lê Thị Ngọc C1, Lê Hữu T1, Lê Hữu L giá trị quyền sử dụng đất diện tích 10,7m² bằng số tiền 33.244.900đ. Bà Trần Thị K và những người con của bà K có tên nêu trên phải giao cho ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị H được quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất 10,7m² và không ai được quyền cản trở, theo bản đồ hiện trạng khu đất của Công Ty TNHH Đ lập ngày 19/3/2024. Thể hiện vị trí tại các điểm 79, 4, 5, 6, 78 có diện tích 10,7m² thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 17. Trên diện tích 10,7m² là một phần căn nhà thuộc tài sản của ông C, bà H và gắn liền với quyền sử dụng đất 10,7m² nên ông C, bà H được toàn quyền tiếp tục sử dụng.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh giao cho ông C, bà H diện tích 10,7m² thuộc thửa số 21, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02206/QSDĐ/hI cấp ngày 30 tháng 6 năm 2004 tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Buộc ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị H tháo dỡ, di dời mái che trả cho bà Trần Thị K, Lê Văn N, Lê Thị V, Lê Thị Mộng T, Lê Thị Ngọc C1, Lê Hữu T1, Lê Hữu L diện tích đất 2,1m² và ông C, bà H không ai được quyền cản trở, theo bản đồ hiện trạng khu đất của Công Ty TNHH Đ lập ngày 19/3/2024. Thể hiện vị trí tại các điểm 80, 78, 6, 7 có diện tích 2,1m² thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 17. Bà Trần Thị K được toàn quyền tiếp tục sử dụng.
Về chi phí tố tụng: Ông Bùi Văn C, bà Huỳnh Thị H phải chịu 10.941.760đ, ông C, bà H có trách nhiệm hoàn lại cho bà Trần Thị Kim S1 tiền 10.941.760đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Nếu người bị thi hành án chậm thi hành đối với khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Trần Thị K được chấp nhận nên ông C, bà H phải chịu án phí 300.000đ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Thúy Liễu |
Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh đất; buộc tháo dỡ di dời công trình kiến trúc xây dựng trên đất
- Số bản án: 67/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh đất; buộc tháo dỡ di dời công trình kiến trúc xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: TRẦN THỊ K; BĐ BÙI VĂN C
