Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS - ST

Ngày 29 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt và bà Mùa Thị Mỷ.

Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS, ngày 26/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn B; tên gọi khác: Không; sinh năm 1981, tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Bản M, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phải, đoàn thể: Không; con ông Trần Thanh X và bà Phạm Thị M; vợ: Bùi Thị Y; con: Có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 45/2006/HSST ngày 09/5/2006 của Tòa án nhân dân huyện Yên xử phạt Trần Văn B 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2008 (Đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 04/6/2024, bị cáo Trần Văn B điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát của gia đình đi từ nhà tại bản M, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La đến bản Lao Khô 1, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Khi đến nơi, B gặp người đàn ông dân tộc Xinh Mun, khoảng 50 tuổi không quen biết. Qua trao đổi, B đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, bị cáo đi vào bụi cây ven đường lấy ra một ít sử dụng bằng hình thức đốt, hít khói vào cơ thể, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu mang về nhà. Khi bị cáo về đến khu vực bản Kim Chung 2, xã P, huyện Y thì bị Tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy cho Tổ công tác.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa các cục bột màu trắng; 01chiếc xe mô tô không gắn biển kiểm soát, số khung: RLHIC43069Y021285, số máy: JC43E0025665.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Trần Văn B được khối lượng là 0,64gam; trích 0,11gam làm mẫu giám định ký hiệu M bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy. Số ma túy còn lại có khối lượng 0,53 gam ký hiệu K nhập kho vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số: 1214/KLMT ngày 06/6/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,64 gam; loại Heroine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Đối với hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ (Điều khiển xe mô tôkhông gắn biển số; không có đăng ký xe; không mang theo giấy phép lái xe;không đội mũ bảo hiểm; không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và trong cơ thể có chất ma tuý) của Trần Văn B, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu và 0,53 gam Heroine; 01 chiếc xe mô tô số khung: RLHIC43069Y021285, số máy: JC43E0025665 không gắn biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu, màu sơn đen đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 38/CT- VKSYC, ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đi mua ma túy về cất giấu, để sử dụng. tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ số vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu và 0,53 gam Heroine

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô số khung: RLHIC43069Y021285, số máy: JC43E0025665 của bị cáo Trần Văn B

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo Trần Văn B trình bày: Nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Y trình bày tại cơ quan điều tra: Chiếc xe mô tô mà bị cáo Trần Văn B sử dụng là xe của gia đình do bị cáo Trần Văn B mua về, xe cũ để đi làm nương. Tình trạng xe hiện tại đã cũ giá trị thấp. Chị Y đề nghị xử lý chiếc xe theo quy định.

Bị cáo Trần Văn B nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa vắng mặt chị Bùi Thị Y là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt chị Bùi Thị Y theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 04/6/2024, bị cáo Trần Văn B đã có hành vi đi mua trái phép một gói ma túy với giá 200.000 đồng mang về cất giấu để sử dụng. Trên đường về đến khu vực bản Kim Chung 2, xã P, huyện Y thì bị Tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy cho Tổ công tác. Tại bản Kết luận giám định, số:1214/KLMT ngày 06/6/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu M thu giữ của bị cáo gửi giám định là ma túy; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,64 gam; loại Heroine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, do bị cáo nghiện ma túy, nên đi mua ma túy về cất giấu, động cơ mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như bản cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ. Việc xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo đã trực tiếp tàng trữ 0,64 gam; loại Heroinevới mục đích sử dụng cho bản thân, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng có mức hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú thể hiện khi bị kiểm tra hành chính, bị cáo đã khai nhận và tự giác giao nộp gói ma túy cho Tổ công tác. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo có thân nhân là ông Trần Ngọc T là Liệt sỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nên cần vận dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Nhân thân bị cáo năm 2006 đã bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong ngày 16/5/2008 (Đã được xóa án tích). Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Trần Văn Bắc sống chung với gia đình, không có tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng một phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,53 gam Heroine, 01 gói giấy bạc màu trắng là loại Nhà nước cấm lưu hành cần vân dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý. Đối với chiếc xe mô tô số khung: RLHIC43069Y021285, số máy: JC43E0025665, không gắn biển kiểm soát đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo. Là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng đi mua ma túy về cất giấu sử dụng cần vận dụng điểm a khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước

[7] Đối với vấn đề khác: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, theo lời khai của bị cáo thì bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện để điều tra xác minh, làm rõ.

[8] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Xử phạt bị cáo Trần Văn B 16 tháng (Mười sáu tháng) tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 04/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng một phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mẫu K = 0,53 gam Heroine, 01 gói giấy bạc màu trắng

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô số khung: RLHIC43069Y021285,số máy: JC43E0025665 của bị cáo Trần Văn B.

(Chi tiết vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn Bi chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho chị Bùi Thị Y người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao gửi bản án theo thủ tục hợp lệ.

6

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Yên Châu;
  • - CA huyện Yên Châu;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Châu;
  • - Bộ phận VNCA huyện Yên Châu;
  • - Bị cáo; NCQLNV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS - ST ngày 29/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger