Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS - ST

Ngày 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Luân và ông Hà Chí Thanh.

Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS, ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:

Đỗ Văn N; tên gọi khác: Không; sinh năm 1961, tại thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi tạm trú: Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phải, đoàn thể: Không; con ông Đỗ Văn T (Đã chết) và bà Trần Thị N1 (Đã chết); vợ: Vũ Thị Thanh T1; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/01/2017 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền, chấp hành xong ngày 25/01/2017 (đã hết thời hạn bị coi là bị xử phạt vi phạm hành chính). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25 tháng 5 năm 2024, bị cáo Đỗ Văn N đi bộ từ Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y đến khu vực Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Y thuộc Tiểu khu D, thị trấn Y, huyện Y mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết đang đi bộ ngoài đường. Bị cáo hỏi và mua được của người đàn ông trên 04 viên H phiến với giá 200.000 đồng được gói trong 01 mảnh nilon màu xanh. Mua được ma túy, bị cáo cất giấu trong túi quần trước bên phải rồi đi bộ về nhà ở Tiểu khu I, thị trấn Y, huyện Y. Khi về đến khu vực vườn hoa Tuổi trẻ thuộc địa phận Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra bị cáo đã tự giác lấy gói ma túy đang cất giấu ở túi quần phía trước bên phải đang mặc ra giao nộp cho Tổ công tác.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 04 viên nén đồng dạng hình trụ tròn, màu hồng bị cáo khai nhận là H phiến.

Ngày 26/5/2024 Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo Đỗ Văn N được tổng khối lượng là 0,38 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu T gửi giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 1134/KLMT ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu T là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi là 0,38 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,38 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Vật chứng của vụ án còn lại gồm: 01 phong bì niêm phong niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu.

Tại bản cáo trạng số 33/CT- VKSYC, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Lời khai của bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đi mua ma túy về để sử dụng. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Văn N từ 16 tháng đến 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ số vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo Đỗ Văn N trình bày: Nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Đỗ Văn N nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo, nay bị cáo tuổi cao sức khỏe yếu kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, giúp bị cáo yên tâm cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 25/5/2024, tại khu vực Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Y thuộc Tiểu khu D, thị trấn Y, huyện Y bị cáo Đỗ Văn N đã có hành vi mua 04 viên H phiến với giá 200.000 đồng được gói trong 01 mảnh nilon màu xanh của một người đàn ông bị cáo không quen biết. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đi về nhà tại Tiểu khu A, thị trấn, Y, trên đường về thì bị Tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra, bị cáo đã tự giác lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi quần đang mặc ra giao nộp cho Tổ công tác. Tại kết luận giám định số: 1134/KLMT ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu T thu giữ của bị cáo là ma túy; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,38 gam; Loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc Tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi cất giấu trái phép ma túy loại Methamphetamine trên của bị cáo Đỗ Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Việc xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Với khối lượng 0,38 gam Methamphetamine bị cáo tàng trữ thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng có mức hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, khi bị kiểm tra hành chính, bị cáo đã đầu thú thể hiện bị cáo đã khai nhận đi mua ma túy về và tự giác giao nộp gói ma túy cho lực lượng chức năng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần vận dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, phạm tội lần đầu, thời điểm phạm tội bị cáo đã trên 60 tuổi, là người cao tuổi phạm tội; tiền sự năm 2017 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau (đã hết thời hạn bị coi là bị xử phạt vi phạm hành chính).

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Đỗ Văn N sống chung với gia đình, không có tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Vật chứng vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu. Xét không có giá trị sử dụng cần vận dụng khoản 1 điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý.

[7] Đối với vấn đề khác: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, theo lời khai của bị cáo là người đàn ông, nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện để điều tra xác minh, làm rõ.

[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn N không thuộc trường hợp được miễn giảm tiền phạt án phí, phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

  1. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 16 tháng (Mười sáu tháng) tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 25/5/2024.
  2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm:
  4. 01 phong bì niêm phong niêm phong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu.

    (Chi tiết vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  6. Buộc bị cáo Đỗ Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Yên Châu;
  • - CA huyện Yên Châu;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Châu;
  • - Bộ phận VNCA huyện Yên Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 58/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger