TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày 25 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Văn Tùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Chí Thanh và bà Lừ Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lừ Đức Long T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1997, tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn D (Đã chết) con bà Lừ Thị Đ; Vợ: Vì Thị Quỳnh C; con: Có 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Năm 2018 Lừ Đức Long T1 bị Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, đến ngày 23/8/2023 Lừ Đức Long T1 chấp hành xong án phạt tù (Chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Vì Lâm T2; tên gọi khác: Không; sinh năm 2001, tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn M và bà Lường Thị H; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, đến ngày 11/02/2022 bị cáo chấp hành xong án phạt tù (Đã được xoá án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đào Thị H1; sinh năm 1974. Nơi cư trú: Bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 04/6/2024, bị cáo Lừ Đức Long T1 đến bản Y, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La sửa xe máy. Do không có xe máy về nên bị cáo T1 mượn xe máy BKS: 72L9- 9609 của chị Đào Thị H1, để đi về nhà. Khi về đến bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La, T1 gặp bị cáo Vì Lâm T2 đang đi bộ ngoài đường, do trời mưa nên T1 và T2 vào trú mưa. Tại đây, T2 rủ T1 tìm mua ma túy về cùng nhau sử dụng, thấy T1 không có tiền nên T2 nói cho T1 mượn 100.000 đồng để mua ma tuý, T1 đồng ý. T2 lấy số tiền 200.000 đồng đưa cho T1 cất vào trong túi quần bên trái rồi T1 điều khiển xe máy chở T2 ngồi sau đi theo đường Quốc lộ 6C đến xã P, huyện Y, theo đường liên bản đi đến khu vực biên giới thuộc địa phận bản Keo Muông, xã P rồi theo đường mòn vượt biên giới Việt Nam- Lào trái phép đến bản K, huyện X, tỉnh Hủa Phăn, nước Lào để tìm mua ma túy. Tại đây, T1 và T2 gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ ngoài đường. T1 hỏi và mua của người phụ nữ này 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Hồng phiến (T1 không kiểm đếm số H2 phiến bên trong) với giá 200.000 đồng. Mua được ma tuý, T1 đưa cho T2 cầm ở lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy chở T2 về theo đường cũ. Khi T1 và T2 về đến địa phận bản Keo Muông, xã P, huyên Y, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng C1 - Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Công an huyện Y, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 24 viên nén hình trụ tròn màu hồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu sơn trắng đen, BKS: 72L9- 9609.
Ngày 05/6/2024 Đồn biên phòng C1 tiến hành cân tịnh xác định khối lượng viên nén màu hồng thu giữ của các bị cáo Lừ Đức Long T1 và Vì Lâm Tùng được tổng khối lượng là 2,57 gam; trích 05 viên có khối lượng 0,54 gam làm mẫu giám định, ký hiệu T1 bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma tuý.
Tại kết luận giám định số: 1209/KL- KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu T1 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi là 0,54 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,57 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.”.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSYC ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, đã truy tố các bị cáo Lừ Đức Long T1 và Vì Lâm T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
3
Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lừ Đức Long T1 từ 32 tháng đến 36 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V Lâm Tùng từ 32 tháng đến 36 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mành nilon màu trắng vật chứng ban đầu; 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu và 2,03 gam Methamphetamine.
Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã V, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của các bị cáo Lừ Đức Long T1 và Vì Lâm T2 trình bày: Các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về tội danh và hình phạt và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đào Thị H1 trình bày tại cơ quan điều tra: Ngày 04/6/2024, chị có cho bị cáo Lừ Đức L mượn chiếc xe máy BKS: 72L9- 9609, để đi về nhà ở bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La. Việc bị cáo tự ý lấy xe đi mua bán ma túy về cất giấu sử dụng chị H1 không biết. Chị H1 đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe máy trên. Hiện chị H1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và
4
tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa chị Đào Thị H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt chị, xét việc vắng mặt chị H1 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Tòa án xét xử vắng mặt chị Đào Thị H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, các bị cáo Lừ Đức Long T1, Vì L đã có hành vi sang Lào mua một gói Hồng phiến với giá 200.000 đồng mang về cất giấu trái phép để cùng nhau sử dụng. Trên đường về nhà đến bản K, xã P, huyện Y thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng C1 phối hợp với Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang thu giữ gói Hồng phiến. Tại kết luận giám định số: 1209/KL- KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của các bị cáo kí hiệu T1 là ma túy; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,57 gam; Loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lời khai của các bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình các bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi cất giấu trái phép 2,57 gam ma túy của các bị cáo Lừ Đức Long T1, Vì Lâm T2 đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là chính xác. Việc xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Về tính chất, mức độ vai trò phạm tội của các bị cáo:
Về tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người... Với khối lượng 2,57 gam ma túy các bị cáo tàng trữ có khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù.
Về vai trò phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, cùng là người thực hành tích cực thực hiện tội phạm, cùng góp tiền, cùng nhau đi mua ma túy về cất giấu sử dụng. giữa các bị cáo không có sự phân công, trách nhiệm của từng người. Trong vụ án, bị cáo Vì Lâm T2 là người rủ rê, khởi xướng và là người chủ động cho bị cáo T1 vay tiền để cùng nhau góp tiền mua ma túy. Bị cáo Lừ Đức Long T1 là đồng
5
phạm, là người tạo điều kiện về phương tiện và điều khiển phương tiện chở bị cáo Vì Lâm T3 đi tìm mua ma túy, là người trực tiếp đứng ra giao dịch mua bán ma túy, sau khi mua được ma túy đưa cho bị cáo T3 cất giấu ma túy. Vì vậy cần áp dụng điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, để xem xét áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo trong vụ án.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Năm 2018 Lừ Đức Long T1 bị Toà án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 07 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đến ngày 23/8/2023 Lừ Đức Long T1 chấp hành xong án phạt tù. Đến thời điểm phạm tội mới chưa đủ thời hạn xóa án. Do đó bị cáo Lừ Đức Long T1 phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vì Lâm T3 không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo Lừ Đức Long T1, Vì L đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần vận dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Nhân thân các bị cáo: Đều là đối tượng nghiện ma túy. Năm 2018 bị cáo Vì Lâm Tùng bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy mới được xóa án.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội tàng trữ ma túy có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo Lừ Đức Long T1, Vì Lâm T3 là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lừ Đức Long T1, Vì Lâm T3.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mành nilon màu trắng vật chứng ban đầu; 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu và 2,03 gam Methamphetamine. Xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ, và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu sơn trắng
6
đen, BKS: 72L9- 9609. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Đào Thị H1 cho bị cáo T1 mượn để đi về nhà, vì xe máy của bị cáo T1 bị hỏng. Chị H1 không biết việc bị cáo T1 sẽ sử dụng xe máy vào hành vi phạm tội. Nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đào Thị H1. Chị Đào Thị H1 đã nhận được xe, không có yêu cầu đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bán ma túy cho các bị cáo, các bị cáo khai nhận không quen biết người bán ma tuý. Ngoài lời khai của hai bị cáo, không còn chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhưng sinh sống ở xã vùng I không thuộc trường hợp được miễn án phí. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Bị cáo Lừ Đức Long T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lừ Đức Long T1 36 tháng (Ba mươi sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/6/2024 đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Bị cáo Vì Lâm T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Lâm Tùng 33 tháng (Ba mươi ba tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/6/2024 đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mành nilon màu trắng vật chứng ban đầu; 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu và 2,03 gam Methamphetamine.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Lừ Đức Long T1, Vì Lâm Tùng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho chị Đào Thị H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
7
vắng mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao gửi theo thủ tục hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Tùng |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừ Đức Long T cùng đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
