Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Văn Hải và ông Đỗ Tiến Hiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1987, tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn B và bà Lừ Thị T; vợ: Hà Thị K (Đã ly hôn); con: Có 01con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mè Thị V; sinh năm: 1974; địa chỉ: Bản H, xã V, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 03 tháng 6 năm 2024, bị cáo Lò Văn H điều khiển xe máy BKS: 26B2- 341.74 đi từ tiểu khu D, thị trấn Y, huyện Y đến xã V, huyện Y tìm mua ma túy để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến bản H, xã V, bị cáo đã gặp một người đàn ông không quen biết đang đi bộ ngoài đường. Bị cáo đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 05 viên H1 phiến với giá 200.000 đồng, được gói trong mảnh nilon màu xanh. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khi về đến giữa bản Huổi Hẹ, xã V, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ gói ma túy bị cáo đang cầm trên tay.

Vật chứng thu giữ gồm: Một gói nilon màu xanh bên trong có chứa 05 viên nén đồng dang hình trụ tròn màu hồng; 01 chiếc xe máy BKS: 26B2-341.74.

Ngày 04/6/2024 Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn H được tổng khối lượng là 0,58 gam, lấy toàn bộ ký hiệu T làm mẫu gửi giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 1206/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu T là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi là 0,58 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,58 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSYC ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa công khai bị cáo Lò Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đi mua 0,58 gamMethamphetamine về để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, đề nghị áp dụng khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu.

Án phí: Bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo Lò Văn H trình bày: Bị cáo nhất trí như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Mè Thị V trình bày: Chị V và bị cáo H có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 03/6/2024 bị cáo H có mượn xe máy của chị đi chơi. Việc bị cáo sử dụng xe của chị đi mua ma túy chị V hoàn toàn không biết. Chị đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe máy BKS: 26B2- 341. 74, chị V không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn H, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 03/6/2024 bị cáo Lò Văn H đã có hành vi đi mua trái phép 01 gói ma tuý gồm 05 viên hồng phiến của một người đàn ông không quen biết tại bản Huổi Hẹ, xã V, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi về. Khi đi đến giữa bản Huổi Hẹ thì bị Tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ gói ma túy bị cáo đang cầm trên tay. Tại kết luận giám định số: 1206/KL-KTHS, ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của bị cáo là ma túy; tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Lò Văn H là 0,58 gam, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai động cơ, mục đích đi mua ma túy về cất giấu trái phép ma túy để sử dụng cho bản thân. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi cất giấu trái phép ma túy loại Methamphetamine trên của bị cáo Lò Văn H đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Việc xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Với khối lượng 0,58 gam Methamphetamine bị cáo cất giấu, thuộc trường hợp phạm nghiêm trọng có mức hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Nên cần vận dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Nhân thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.

[4] Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nghiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Lò Văn H không có tài sản có giá trị lớn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu. Xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy theo quy định tại khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[7] Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho bị cáo Lò Văn H, theo lời khai của bị cáo là một người đàn ông khoảng 30 tuổi, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào nào khác, nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện để điều tra xác minh, làm rõ.

[8] Đối với chiếc xe máy BKS: 26B2- 341. 74 mà bị cáo Lò Văn H sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của chị Mè Thị V là bạn gái của bị cáo. Việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy chị V không biết. Nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị Mè Thị V. Tại phiên tòa chị Mè Thị V không có yêu cầu đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không có sơ sở để xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo Lò Văn H không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 21 tháng (Hai mươi mốt tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024 là ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu và 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu.

(Chi tiết vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Yên Châu;
  • - CA huyện Yên Châu;
  • - Trại tạm giam;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Châu;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger