|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày: 19 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Chau Khon Sốc;
Bà Huỳnh Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 52/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/2023/TB-TA ngày 04 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Chau Bi, sinh ngày 20/7/2004 tại huyện T, tỉnh An Giang. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau Sa B và bà Néang Sốc C; bị cáo chưa có vợ, con; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai. Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2023 đến nay, bị cáo có mặt.
2. Chau Ra, sinh ngày 12/03/2003 tại huyện T, tỉnh An Giang. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau D và bà Néang R; bị cáo chưa có vợ, con; anh chị em có 03 người, bị cáo là người thứ ba. Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 10/8/2023 đến nay, bị cáo có mặt.
Bị hại:
Ông Chau S, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Bà Giang Thị K1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Ông Chau Sá P, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Anh Chau K2 (B1), sinh năm 2004. Địa chỉ: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Ông Nguyễn Huỳnh N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số B T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Ông Chau Sa B, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng:
Ông Dương Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Bà Néang P1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Ông Trương Văn C1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người phiên dịch:
ông Kim S1, sinh năm 1964. Cư trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 02/8/2023, Chau B2 rủ Chau R1 đi tìm tài sản lấy trộm, được Chau R1 đồng ý. Nên Chau B2 điều khiển xe mô tô biển số 67B1-312.35 chở C2 Ra đến khi vực khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang. Khi phát hiện xe mô tô biển số 67K7 – 1875, loại xe Honda Wave, màu xanh của ông Chau S dựng trên bờ kênh, không người trông giữ. Chau B2 dừng xe và đưa cho C2 Ra một chìa khoá xe bằng kim loại, có ốp đầu bằng nhựa, Chau B2 ngồi trên xe cảnh giới để Chau R1 mở khoá xe lấy trộm, rồi cả hai đem xe bán cho cơ sở thu mua phế liệu do anh Nguyễn Văn K làm chủ, ngụ khóm T, thị trấn C, huyện T bán với giá 800.000 đồng, rồi chia nhau tiêu xài hết. Sau khi phát hiện xe bị mất, ông S2 được mọi người cho biết xe mô tô 67K7 – 1875 được cơ sở thu mua phế liệu của anh K đã thu mua nên trình báo Công an thị trấn C. Qua làm việc, Chau B2 và Chau R1 khai nhận hành vi lấy trộm xe của ông S. Ngày 10/8/2023, Chau B2 và Chau R1 bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) xe mô tô, biển số 67K7 – 1875, loại xe Honda Wave, màu xanh, số máy 0330480, số khung 330373, đã qua sử dụng (đã trả lại cho ông Chau S).
- - 01 (một) xe mô tô 67B1-312.35, loại xe Honda Wave Honda, màu xanh, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) chìa khoá xe bằng kim loại, trên phần chìa có chữ và số A26 màu vàng đồng, phần màu chìa có ốp nhựa màu đen bị gãy.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 34/KL-HĐĐG.TTHS ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) xe mô tô 67K7 – 1875, loại xe Honda Wave, màu xanh, số máy 0330480, số khung 330373, đã qua sử dụng, trị giá 8.000.000 đồng.
Căn cứ kết luận giám định số: 371 ngày 04/10/2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh A kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép trên tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất 14 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSTT-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố các bị cáo Chau B2 và Chau R1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Chau B2 và Chau R1 khai nhận hành vi như cáo trạng đã nêu. Ngoài ra, Chau B2, Chau R1 còn khai vào ngày 06/8/2023 cùng Chau K2 (B1) lấy trộm một xe mô tô màu đỏ (không biển số) của ông Chau Sá P (ba của Chau K2) tại khóm T, thị trấn C, huyện T.
Bị hại ông Chau S:
Trình bày lời khai như nội dung đã khai nhận trong giai đoạn điều tra, truy tố. Ông Chau S đã nhận lại xe nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và cũng không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong giai đoạn điều tra cho biết, có mua xe mô tô, biển số 67K7 – 1875 do ra và Chau R1 đem bán nhưng anh không biết xe do Chau R1 và Chau B2 lấy trộm của người khác, ông K không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Trong quá trình điều tra người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Giang Thị K1, ông Chau Sa B, anh Chau K2, ông Chau Sá P, ông Nguyễn Huỳnh N và người làm chứng ông Dương Văn H, bà Néang P1, ông Trương Văn C1, trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và trình bày lời luận tội: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại nên Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Các bị cáo cùng thực hiện một tội phạm, có sự phân hóa vai trò cụ thể, bị cáo Chau B2 là người rủ rê đi trộm và bị cáo Chau R1 thực hiện việc lấy trộm xe, nên cả hai bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi phạm tội của mình. Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành
khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người khmer có trình độ học vấn thấp nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: không. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chau B2 từ 01 (một) năm đến 01 năm 03 (ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Chau R1 từ 09 (chín) tháng đến 01 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Chau B2 và Chau R1 không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chau S đã nhận lại tài sản, ông S không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 46 ; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý : Đối với 01 (một) chìa khoá xe bằng kim loại, trên phần chìa có chữ và số A26 màu vàng đồng, phần màu chìa có ốp nhựa màu đen bị gãy. Đây là công cụ mà các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Trả lại cho ông Chau Sa B 01 (một) xe mô tô 67B1-312.35, loại xe Honda Wave Honda, màu xanh, đã qua sử dụng.
Đối với số tiền 800.000 đồng do các bị cáo có được do bán tài sản, đây là tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có nên buộc các bị cáo nộp lại và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với ông Nguyễn Văn K có hành vi mua xe mô tô của các bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ.
Đối với Chau K2, do các bị cáo khai đã cùng Chau K2 trộm xe của ông Chau Sá P là cha của Chau K2. Nhưng qua xác minh tại địa phương và lời khai của ông Chau Sá P không có sự việc mất trộm xe như lời khai của hai bị cáo nên cơ quan điều tra không khởi tố Chau K2 là có căn cứ.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của Kiểm sát viên; lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K, bà Giang Thị K1, ông Chau Sa B, ông Nguyễn Huỳnh N, đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy các ông bà có tên nêu trên đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các ông bà có tên nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Chau B2 và Chau Ra đều khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cũng phù hợp với lời khai mà các bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, đồng thời còn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 02/8/2023, các bị cáo Chau B2, Chau R1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 67K7 – 1875, loại xe Honda Wave, màu xanh của ông Chau S tại khóm S, thị trấn C, huyện T. Sau đó, đem bán cho ông Nguyễn Văn K với giá 800.000đ, rồi chia Chau Bi 200.000đ, Chau Ra 600.000đ để tiêu xài cá nhân. Trị giá xe mô tô mà các bị cáo chiếm đoạt đã được Hội đồng thẩm định giá là 8.000.000đ nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo Chau B2 là người rủ rê đi kiếm tài sản để lấy trộm và bị cáo Chau R1 là người trực tiếp chiếm đoạt tài sản. Các bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực để nhận biết được trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo biết sống tuân thủ pháp luật, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người khmer có trình độ học vấn thấp nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng năng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Chau B2, Chau R1 không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chau S đã nhận lại tài sản, ông S không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[7] Các biện pháp tư pháp: Không.
[8] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX xét thấy, cần trả lại cho ông Chau Sa B 01 (một) xe mô tô 67B1-312.35, loại xe Honda Wave Honda, màu xanh, đã qua sử dụng do ông Chau Sa B mua của người
khác để đi làm hồ, ông Chau Sa B không biết việc bị cáo Chau B2 sử dụng xe để đi trộm cắp nên trả xe là cho ông Chau Sa B là có căn cứ.
Đối với 01 (một) chìa khoá xe bằng kim loại, trên phần chìa có chữ và số A26 màu vàng đồng, phần màu chìa có ốp nhựa màu đen bị gãy. Đây là công cụ mà các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền có được do bán tài sản và hai bị cáo chia ra tiêu xài (Chau Bi 200.000 đồng và Chau Ra 600.000 đồng), đây là tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có nên buộc các bị cáo nộp lại và tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với Nguyễn Văn K có hành vi mua xe mô tô của các bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ.
Đối với Chau K2, qua xác minh tại địa phương và lời khai của ông Chau Sá P không có sự việc mất trộm xe như lời khai của hai bị cáo nên cơ quan điều tra không khởi tố Chau K2 là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử xem xét.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Chau B2 và Chau R1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Chau B2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 10/8/2023 (ngày mười tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Xử phạt bị cáo Chau R1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 10/8/2023 (ngày mười tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Căn cứ vào Điều 46 ; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khoá xe bằng kim loại, trên phần chìa có chữ và số A26 màu vàng đồng, phần màu chìa có ốp nhựa màu đen bị gãy.
Trả lại cho ông Chau Sa B 01 (một) xe mô tô 67B1-312.35, loại xe Honda Wave Honda, màu xanh, đã qua sử dụng.
Buộc bị cáo Chau B2 giao nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Buộc bị cáo Chau R1 giao nộp số tiền 600.000 đồng (sau trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-11-2023).
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Chau B2 và Chau R1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo, nếu vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Thuý Liễu |
Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (sơ thẩm)
- Số bản án: 55/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Chau Bi, Chau Ra "phạm tội trộm cắp tài sản"
