|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU - SƠN LA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Tùng;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Anh Văn và ông Đỗ Tiến Hiệt.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Loan - kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Bùi Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976, tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Bản K, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: không; con ông Bùi Văn Đ và bà Vũ Thị V; vợ: Vũ Thị T; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo Sồng Lao T1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989, tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 11/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Đảng viên Đảng CSVN, đã bị đình chỉ Đảng theo Quyết định số 99 ngày 05/8/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy huyện Y; con ông Sồng Lao C và bà Tếnh Thị K; vợ: Tếnh Thị S; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Sồng Lao T1: Ông Lường Ngọc C1 - Luật sư, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Ông Bùi Văn Đ; sinh năm 1949; trú tại: Bản K, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Anh Bùi Văn H1; sinh năm 1985; trú tại: Bản K, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02/2024, Bị cáo Bùi Văn H sang bản Hua Pù, cụm M, huyện X, tỉnh Hủa Phăn, nước Lào thu mua ngô bắp của người dân giá 4.900đ/kg để đem về Việt Nam bán. Khi đã thu gom được khoảng 28 tấn ngô bắp tại kho, bị cáo Bùi Văn H thuê Sồng Lao T1 bảo T1 lái xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, không biển kiểm soát của gia đình H, lái xe sang Lào chở ngô về. Ngày 04/3/2024, bị cáo Sồng Lao T1 đến kho ngô của Bùi Văn H tại bản Hua Pù, cụm M, huyện X, tỉnh Hủa Phăn, nước Lào xếp ngô lên xe song H bảo T1 nghỉ ngơi rồi chở ngô về qua đường trạm biên phòng P để giảm chi phí thuế, chi phí đi lại và các thủ tục thông quan, nhập khẩu hàng hóa để về bán kiếm lời, còn bán ở đâu sẽ bảo sau, khi đi qua trạm biên phòng P thì vào khai báo là xe ngô của H, thủ tục H đã lo hết. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe ô tô tải chở theo ngô bắp xuất phát từ kho của H tại bản H (Lào) theo đường cũ đi qua trạm kiểm soát biên phòng M - Lào, đi qua cột mốc biên giới 242 Việt Nam - Lào, khoảng 14 giờ thì đến trạm biên phòng P (Việt Nam), T1 dừng, xuống xe vào trong trạm làm việc với Lê Thanh T2, sinh năm 1992, là cán bộ Trạm biên phòng P. Sau đó tiếp tục điều khiển xe ô tô tải chở ngô đi qua barie. Đến 15 giờ, khi đến bản M, xã L thì gặp Hoàng Văn T3, hỏi mua ngô. Bùi Văn H đồng ý bán với giá 5.100đ/kg. Sau đó, H gọi điện thoại cho T1 bảo T1 chở ngô đến kho ngô nhà Hoàng Văn T3 tại bản Y, xã L để cân, bán. Đến 16 giờ 40 phút, T1 điều khiển xe ô tô tải chở ngô bắp theo đường tỉnh lộ 103 đến cầu T, rẽ phải đến bản Y, xã L thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, kiểm tra lập biên bản và thu giữ vật chứng là 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU đã qua sử dụng, không biển kiểm soát, không có số khung, số máy và toàn bộ số lượng ngô bắp mua bán, vận chuyển trái phép qua biên giới.
Ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra thực hiện cân tịnh, xác định khối lượng hàng hóa là ngô bắp mua bán, vận chuyển trái phép qua biên giới ngày 04/3/2024. Kết quả xác định khối lượng ngô bắp trên xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, không biển kiểm soát do Sồng Lao T1 vận chuyển có khối lượng 26.190kg (Hai mươi sáu nghìn một trăm chín mươi kilogam).
Ngày 12/3/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y có Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG xác định 26.190 kg ngô bắp có giá trị 136.188.000đ (Một trăm ba mươi sáu triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng).
3
Đối với số vật chứng là 26.190kg (Hai mươi sáu nghìn một trăm chín mươi kilogam) ngô bắp, là loại hàng hóa mau hỏng, nên ngày 02/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bán theo quy định của pháp luật, thu được số tiền 113.537.000 đồng (Một trăm mười ba triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSYC ngày 17 tháng 6 năm 2024, được bổ sung bằng bản cáo trạng số 32/CT-VKSYC ngày 30 tháng 8 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội Buôn lậu, theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Sồng Lao T1 về tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, theo quy định tại Khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa công khai các bị cáo Bùi Văn H và Sồng Lao T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung Bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 55 triệu đến 70 triệu đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Sồng Lao T1 mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU đã qua sử dụng, không biển kiểm soát, không có số khung, số máy và số tiền 113.537.000 đồng (Một trăm mười ba triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Đề nghị truy thu tịch thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo Sồng Lao T1 do phạm tội mà có, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Sồng Lao T1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Bùi Văn H trình bày: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Ngày 04/3/2024 bị cáo có thuê bị cáo Sồng Lao T1 chở ngô bắp từ Lào về Việt Nam để bán kiếm lời và trả công cho bị cáo Sồng Lao T1 500.000 đồng. Đây là lần đầu tiên phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Ý kiến của bị cáo Sồng Lao T1 trình bày: Ngày 04/3/2024, bị cáo được bị cáo Bùi Văn H thuê chở ngô bắp từ Lào về Việt Nam và được bị cáo H trả công
4
vận chuyển là 500.000 đồng, số tiền này bị cáo đã tiêu sài hết. đây là lần đầu tiên phạm tội do nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo cho bị cáo Sồng Lao T1 trình bày: Bị cao S1 lao T1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế. Khi vụ án bị phát hiện bị cáo đã khai báo ra hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn H, giúp cơ quan điều tra điều tra phát hiện hiện tội phạm do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Sồng Lao T1 mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập và miễn án phí cho bị cáo.
Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Văn Đ và Bùi Văn H1: Đều nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đối với chiếc xe ô tô tải ISUZU không biển kiểm soát là xe chung của ông Đ, anh H1 và bị cáo H cùng góp tiền mua xe về làm ăn. Xe mua với giá 210.000.000 đồng. Khi mua xe đã không có biển số, không có giấy tờ, nên nhất trí tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát với người bào chữa cho bị cáo Sồng Lao T1: Không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì hành vi khai báo ra hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn H đã được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Không áp dụng điều 54 để xử dưới khung hình phạt.
Bị cáo Bùi Văn H và Sồng Lao T1 nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng tháng 02/2024 bị cáo Bùi Văn H sang thu mua gom ngô tại cụm M, huyện X, tỉnh Hủa Phăn, nước Lào. Đến ngày 04 tháng 3 năm 2024, Bị cáo H đã có hành vi thuê bị cáo Sồng Lao T1 vận chuyển chở 26.190kg ngô bắp bằng ô tô tải không biển kiểm soát của gia
5
đình bị cáo H qua biên giới từ nước Lào về Việt Nam thông qua lối mở biên giới để trốn tránh làm thủ tục nhập khẩu, thông quan tại cửa khẩu và tiết kiệm chi phí đi lại. Còn bị cáo Sồng Lao T1 khi bị cáo H yêu cầu lấy xe ô tô của H sang vận chuyển ngô bắp trái phép qua biên giới từ nước Lào về Việt Nam, mặc dù biết hành vi này là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện vì tin tưởng Bùi Văn H có mối quan hệ với Trạm biên phòng P nên hành vi sẽ không bị phát hiện xử lý. Khi T1 đang trên đường vận chuyển ngô đến kho giao hàng tại bản Y, xã L, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng. Theo Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá huyện Y kết luận 26.190 kg ngô bắp có giá trị 136.188.000đ (Một trăm ba mươi sáu triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bản thân các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Bùi Văn H đã phạm vào tội Buôn lậu, quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Sồng Lao T1 đã phạm vào tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, theo quy định tại Khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ. Việc xét xử các bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
[3] Về tính chất, vai trò, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Với khối lượng hàng hóa buôn lậu trái pháp luật 26.190kg ngô bắp có giá trị 136.188.000 đồng của bị cáo Bùi Văn H, thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng có mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Với hành vi vận chuyển ngô bắp trái phép qua biên giới từ nước Lào về Việt Nam của bị cáo Sồng Lao T1, thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
Xét về vai trò phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án các bị cáo phạm tội độc lập, không có sự tổ chức, phân công, câu kết chặt chẽ vì vậy không thuộc trường hợp đồng phạm.
Về nhân: Nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.
6
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất đến 3 năm tù. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là cơ sở để xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo quy định tại tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra bị cáo Sồng Lao T1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế, khi vụ án bị phát hiện bị cáo đã khai báo ra hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn H, giúp cơ quan điều tra điều tra phát hiện tội phạm và giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, nên bị cáo Sồng Lao T1 còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Sồng L Tăng là có căn cứ. Đối với ý kiến của Viện kiểm sát không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật, vì theo quy định tại Điều 54 chỉ áp dụng khi xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khi thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Từ sự phân tích trên, xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy chưa cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, mà cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ, nhân thân và điều kiện hoàn cảnh của từng bị cáo. Đối với bị cáo Bùi Văn H có điều kiện kinh tế và khả năng thi hành khi áp dụng hình phạt tiền, nên vận dụng Điều 50, Điều 35 Bộ luật hình sự để xử phạt; đối với bị cáo Sồng L Tăng gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền mà áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo giao bị cáo cũng đủ điều kiện giúp bị cáo tự cải tạo bản thân trở thành người lương thiện có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập: Về hình phạt bổ sung Ngoài hình phạt chính, bị cáo Bùi Văn H có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 188 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; còn bị cáo Sồng Lao T1 có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Ngoài ra theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự quy định người bị phạt cải tạo không giam giữ có thể bị khấu trừ thu nhập từ 05 đến 20% để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên xét bị cáo Bùi Văn H hình phạt chính đã áp dụng là phạt tiền nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đối với bị cáo Sồng Lao T1 điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo chủ yếu đi làm thuê, thu nhập không ổn định,
7
nên không áp dụng hình phạt bổ và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Sồng Lao T1.
[5] Về vật chứng: Đối với 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU là xe của bị cáo Bùi Văn H mua chung cùng bố là ông Bùi Văn Đ và anh trai là Bùi Văn H1, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định xe ô tô không biển kiểm soát, không có số khung, số máy, không có giấy tờ xe, không rõ nguồn gốc xuất xứ, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 113.537.000 đồng (Một trăm mười ba triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng) là số tiền Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bán 26.190kg ngô bắp theo đúng quy định của pháp luật, xét thấy đây là số tiền bán vật chứng do hành vi phạm tội mà có nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 500.000 đồng là tiền công vận chuyển bị cáo H trả công cho bị cáo Sồng Lao T1, bị cáo Sồng Lao T1 đã tiêu sài hết, xét đây là tiền do phạm tội mà có cần vận dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình truy thu tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về vấn đề khác: Đối với Hoàng Văn T3 là người giao dịch mua bán ngô với bị cáo Bùi Văn H, quá trình trao đổi T3 không hỏi bị cáo H về nguồn gốc của hàng hóa, không biết về hành vi vận chuyển ngô trái phép từ Lào về Việt Nam. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với Lê Thanh T2 là cán bộ trạm biên phòng P, quá trình điều tra xác minh lời khai mâu thuẫn với lời khai của Sồng Lao T1. Đã tiến hành đối chất với T1 nhưng không kết luận được nội dung. Quá trình làm việc tại trạm chỉ có T1 và T2 biết với nhau không có người chứng kiến. Do vậy không có cơ sở để xác minh làm rõ hành vi thiếu trách nhiệm của T2.
[7] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo Sồng Lao T1 là dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
8
- Căn cứ khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Buôn lậu.
- Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm i, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Sồng Lao T1 phạm tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước số vật chứng gồm:
- 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU đã qua sử dụng, không biển kiểm soát, không có số khung, số máy
- 113.537.000 đồng (Một trăm mười ba triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt tiền bị cáo Bùi Văn H 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng chẵn).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn H.
Xử phạt bị cáo Sồng Lao T1 12 tháng (Mười hai tháng) cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Sồng Lao T1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La quản lý, theo dõi giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp Ủy ban nhân dân xã P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án đối với bị cáo Sồng Lao T1 về tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Sồng Lao T1.
Truy thu, tịch thu 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Sồng Lao T1 nộp ngân sách nhà nước.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).
Buộc bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Sồng Lao T1.
Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
9 T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Văn Tùng |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA về buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn lậu và Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn H cùng đồng phạm buôn lậu
