Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 52/2024/HSST

Ngày 10 - 5- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng;

2. Bà Nguyễn Thị Hoài Như.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: 45 Lê Lợi, thành phố Đông Hà) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/HSST ngày 01/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Phước B, sinh năm 1994, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn LL 2, xã C Th, huyện C L, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Đầu bếp; Con ông Lê Ngọc T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1963; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 23/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1970; trú tại: Thôn LL 2, xã CT, huyện C L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

* Người làm chứng: Lê Khắc L, sinh năm 1986; trú tại: Khu phố B, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị. Hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

(1) Vào khoảng 0 giờ 15 phút ngày 15 tháng 12 năm 2023, Lê Phước B điều khiển xe mô tô hiệu Team, màu nâu, BKS 74F2-9680 (là tài sản của ông Nguyễn Hữu Kỉnh; địa chỉ thôn LL 2, xã C T, huyện C L) từ nhà đi đến khu vực kiệt số 24 đường Thái Phiên thành phố Đông Hà. Bửu đến nhà của Lê Khắc L (rồi dừng xe ở trước cổng, đi bộ vào trong sân, đến cửa sổ và nói vào trong nhà, hỏi mua 150.000 đồng ma túy tổng hợp hồng phiến. B đưa tiền qua cửa sổ và nhận lại từ L 01 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong có 05 viên ma túy tổng hợp hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu tại tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường Nguyễn Huệ (thuộc khu phố 3, phường 1, thành phố Đông Hà) thì bị Tổ công tác Công an thành phố Đông Hà phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma túy trên.

(2) Tại Kết luận giám định số 53/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 05 viên nén màu hồng (được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu MT2) có khối lượng 0,4919 gam là ma túy loại Methamphetamine.

(3) Cáo trạng số 49/CT-VKSĐH ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Phước B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

(4) Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Phước Bửu từ 14 đến 16 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu và tiêu hủy ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu NS3 2117335.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng đã thể hiện, đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/12/2023, Lê Phước B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4919 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ một năm đến năm năm.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an địa phương và tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và giáo dục. Ban hành quyết định tạm giam bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc Thi hành án.

[4] Xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

- Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu NS3 2117335 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật chứng cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với Lê Khắc L là người đã bán ma túy cho B, Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo trong một vụ án khác.

Đối với ông Nguyễn Hữu K là chủ sở hữu của xe mô tô hiệu Team, màu nâu, BKS 74F2-9680, việc Lê Phước B sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy, ông K không biết nên không xem xét trách nhiệm. Xe mô tô hiệu Team, màu nâu, BKS 74F2-9680 của ông Nguyễn Hữu K không phải là phương tiện phạm tội nên đã trả lại cho ông K, ông K không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Phước B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Phước B 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.
  3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu, tiêu hủy ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu NS3 2117335 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị
  4. Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử: Buộc bị cáo Lê Phước B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP Đông Hà;
  • - Công an TP Đông Hà;
  • - CCTHADS TP Đông Hà;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2024/HSST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 52/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger