|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/8/2024 V/v: Tranh chấp về hôn nhân gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Sơn, ông Nguyễn Đình Quế.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 125/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 56/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 9 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995. (có mặt)
Cư trú: Khu đô thị B, phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Đặng Gia N, sinh năm 1992. (đề nghị xét xử vắng mặt)
HKTT: Khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, lời khai của bị đơn có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.
Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Đặng Gia N vào tháng 10/2019, kết hôn do hai bên tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Bắc Ninh.
Theo phía chị T trình bày: Chị là người quê huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Chị quen với anh N, sau khi quen biết, tìm hiểu yêu thương cả hai đã đi đến hôn nhân cùng nhau. Kể từ sau khi cưới vợ chồng về chung sống cùng với gia đình anh N, vợ chồng chung sống đến khoảng đầu năm 2020 thì không ở cùng với bố mẹ anh N nữa mà vợ chồng đi thuê nhà ở khu đô thị B, phường X, thị xã T để vừa ở, vừa lấy chỗ làm ăn.
Theo chị T thì anh N trong cuộc sống gia đình cùng không chịu làm ăn đàng hoàng, anh N quan hệ, làm ăn với dân kiểu xã hội nên cũng đã làm cho vợ chồng trong cuộc sống cũng có nhiều điều tiếng với nhau, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nhiều và thường xuyên. Bản thân chị thì chịu khó làm ăn kinh tế nhưng anh N lại không chí thú, anh N tiêu tán tài sản mà vợ chồng cóp nhặt được nên càng làm cho vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Trong thời gian vừa qua anh N đã vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm và kết án 07 năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Nay chị T thấy mâu thuẫn vợ chồng cũng đã kéo dài, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bản thân anh N lại không phải là người chồng tốt để có thể gửi gắm cuộc đời, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết để chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Chị T trình bày vợ chồng có 02 con chung là cháu Đặng Thanh T1, sinh ngày 20/10/2020 và cháu Đặng Trúc A, sinh ngày 25/11/2023, hiện hai con chung đang do chị nuôi dưỡng. Ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung, nếu được nuôi cả hai con chị cũng không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía anh N trình bày: Tại biên bản lấy lời khai của anh Đặng Gia N được thực hiện tại Trại tạm giam Công an tỉnh B vào ngày 9/8/2024. Anh N trình bày: Thời gian vừa qua anh đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm và kết án 07 năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Hiện anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B để chờ chấp hành bản án.
Phía anh N cũng xác định anh với chị T có mối quan hệ hôn nhân cùng nhau, vợ chồng đăng ký kết hôn từ tháng 10/2019. Sau khi cưới vợ chồng cũng có thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì trong mối quan hệ vợ chồng cũng đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng do vợ chồng cũng có nhiều bất đồng trong cuộc sống chung. Nay phía chị T có yêu cầu ly hôn, bản thân anh cũng thấy rằng vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn khó có thể chung sống cùng nhau được, anh thì lại phải đi chấp hành án nên anh đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của chị T.
Về con chung: Anh N xác nhận vợ chồng có 02 con chung là các cháu Đặng Thanh T1, sinh ngày 20/10/2020 và cháu Đặng Trúc A, sinh ngày 25/11/2023 như chị T đã khai là đúng. Do anh đang phải đi cải tạo chấp hành án nên anh đồng ý để chị T tiếp tục trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Anh N cũng không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa phía chị T vẫn giữ yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết để chị được ly hôn anh N. Anh N vắng mặt nhưng đã có đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng vụ án. Chủ tọa phiên tòa công bố toàn bộ lời khai của anh N có trong hồ sơ vụ án. Theo đó anh N thuận tình ly hôn với chị T, về con chung anh N cũng nhất trí để chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Tài sản chung chị T, anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tiến hành tố tụng tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác và các đương sự trong vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có sai sót cần kiến nghị khắc phục.
Về giải quyết vụ án: Thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay cả chị T và anh N đều thuận tình ly hôn, tuy nhiên tại phiên tòa anh N vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị T được ly hôn anh N. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 81, 82 và 83 xử giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung không giải quyết do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung không xem xét giải quyết do cả chị T và anh N đều không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ nội dung trên:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị T được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Anh N hiện đang bị tạm giam tại tại Trại tạm giam Công an tỉnh B nhưng có quê quán và đăng ký thường trú tại thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T là có căn cứ.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Đăng Gia N1 vào tháng 10/2019, kết hôn do tự nguyện và có đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới vợ chồng về chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Tuy nhiên sau đó cuộc sống vợ chồng dần dần đã nảy sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do anh N1 không chịu tu dưỡng bản thân, không chăm lo gia đình vợ con. Bản thân anh N1 đã vi phạm pháp luật hình sự, anh N1 phạm tội và bị Tòa án kết án. Theo chị T trình bày thì việc anh N1 không chịu tu dưỡng bản thân, không làm chỗ dựa cho chị trong cuộc sống, anh N1 phạm tội và đã bị Tòa án kết án đã làm cho cuộc sống hôn nhân của vợ chồng đi vào ngõ cụt. Bản thân chị T thấy không có tương lai trong mối quan hệ hôn nhân với anh N1. Đến thời điểm hiện nay cả hai vợ chồng đều xác định không thể tiếp tục cuộc sống chung và đều thuận tình ly hôn, do vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh N1.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đặng Thanh T1, sinh ngày 20/10/2020 và cháu Đặng Trúc A, sinh ngày 25/11/2023, hiện hai con chung đang do chị T nuôi dưỡng. Do anh N1 phải chấp hành bản án hình sự không có điều kiện trực tiếp nuôi con, nên cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị T không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung.
[2.3]. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do chị T, anh N1 không có yêu cầu.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đặng Gia N.
- Về con chung: Giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là các cháu Đặng Thanh T1, sinh ngày 20/10/2020 và cháu Đặng Trúc A, sinh ngày 25/11/2023. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị T không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do chị T, anh N không có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai thu số 0003421 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Sỹ C |
Bản án số 52/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về hôn nhân gia đình
- Số bản án: 52/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T với anh Đặng Gia Nh
