TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 487/2024/HSPT Ngày: 20/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: | Ông Nguyễn Nam Thành; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Tiến Dũng; |
| Ông Nguyễn Trọng Đoàn. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Mai Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 605/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Mai Văn H, sinh ngày 06/3/2003; nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H1 và bà Đặng Thị K; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2023; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Kim T, Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 12/10/2006 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại không kháng cáo: Ông Nguyễn Đức T1 và bà Trần Thị H2.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 28/01/2023, Mai Văn H đang ở nhà thì nhận được điện thoại
của chị Lê Thùy T2 (là bạn của H) rủ đến quán karaoke hát cho nhau nghe 9999 (còn gọi là quán T3) ở thôn M, xã T, huyện T, Hà Nội để ăn uống. Khi rủ H, chị T2 nói với H là có anh Nguyễn Xuân Đ (là người có mâu thuẫn, chửi nhau với H từ trước trên mạng xã hội) đang ngồi uống rượu cùng nhưng H vẫn đồng ý đến. Khi đi, H mang theo 01 con dao (dạng dao gấp bằng kim loại, vỏ dao màu đen dài khoảng 08 - 09 cm, lưỡi dao dài khoảng 08 - 09 cm, bản rộng khoảng 02 cm) cất vào trong túi áo khoác len màu xanh mặc trên người, với mục đích nếu có mâu thuẫn xảy ra trong bữa ăn sẽ sử dụng để chống trả. Sau đó, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH màu đen, biển kiểm soát 29Y5-710.03 đến quán K1.
Khi đến nơi, H thấy anh Đ cùng anh Vũ Văn G, anh Hoàng Văn Q và anh Nguyễn Đức Đ1 đang ngồi ăn với chị T2 nên H vào ngồi ăn cùng. Một lúc sau, có anh Nguyễn Ngọc A đến để ăn cùng nhóm anh Đ. Trong khi ngồi ăn uống, H và anh Đ cãi nhau về xích mích trước đó. Anh Đ dùng chân phải đạp 02 - 03 cái vào phía sau lưng H thì được chị T2 can ngăn. Thấy vậy, anh Ngọc A từ phía sau anh Đ lao đến dùng tay phải đấm vào mặt H thì được những người ngồi ăn cùng can ngăn. Lúc này, anh Ngọc A đang quay lưng về phía H. Do bực tức vì bị anh Ngọc A đánh nên H lấy con dao gấp để trong áo khoác ra cầm trên tay phải, bật lưỡi dao và đâm 01 nhát theo hướng từ trái qua phải trúng vào mạn sườn bên trái phía lưng của anh Ngọc A, làm anh Ngọc A gục xuống. Chị T2 vào can ngăn thì bị H vung dao trúng bàn tay phải. Thấy mọi người hô hào, H cất dao vào túi áo đang mặc rồi lấy xe máy cùng anh Đ chở anh Ngọc A vào Bệnh viện Đ2 để cấp cứu. Do thương tích nặng nên anh Ngọc A được chuyển tiếp đến Bệnh viện Đ3 và đến 02 giờ ngày 29/01/2023, anh Ngọc A tử vong.
Sau khi đưa anh Ngọc A vào bệnh viện, H đi về nhà trọ của chị Lê Thị Khánh L (là bạn của H) tại thôn T, xã N, huyện T để tắm nhờ và sau đó để lại 01 quần dài bằng vải màu đen và 01 áo dài tay màu đen. Đến khoảng 04 giờ ngày 29/01/2023, H đã đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận giám định số 1175/KL-KTHS ngày 03/3/2023, Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận về chất màu nâu đỏ và các đồ vật thu giữ, như sau:
- Trên chiếc áo len dài tay màu xanh, kiểu cài cúc do Mai Văn H giao nộp có dính máu người, có kiểu gen trùng hoàn toàn với kiểu gen của Nguyễn Ngọc A;
- Trên chiếc áo khoác màu đen, có mũ liền do Mai Văn H giao nộp có dính máu người, có kiểu gen trùng hoàn toàn với kiểu gen của Nguyễn Ngọc A;
- Không phát hiện thấy dấu vết máu trên chiếc quần dài bằng vải màu đen thu tại chỗ ở của Lê Thị Khánh L;
- Không phát hiện thấy dấu vết máu trên áo dài tay màu đen thu tại chỗ ở của Lê Thị Khánh L;
- Trên tấm thảm màu ghi, kích thước 5,5 cm x 7,5 cm ở trên đường ngõ trước quán 9999 có dính máu người, không phân tích được kiểu gen do lượng dấu vết ít và chất lượng dấu vết kém;
- Dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt trên đường ngõ trước cửa quán K1 (ký hiệu M) là máu người, không phân tích được kiểu gen do lượng dấu vết ít và chất lượng dấu vết kém;
- Dấu vết màu nâu đỏ loang mờ lẫn trong nước đọng trước cửa quán K1 (ký hiệu M) là máu người, không phân tích được kiểu gen do lượng dấu vết ít và chất lượng dấu vết kém;
- Dấu vết màu nâu đỏ khô dính trên sân quán tại khu vực giữa cửa quán K1 (ký hiệu M) là máu người, không phân tích được kiểu gen do lượng dấu vết ít và chất lượng dấu vết kém;
- Dấu vết màu nâu đỏ dạng bắn trên sân quán, cách cửa 3,6 m (M4) là máu người, không phân tích được kiểu gen do lượng dấu vết ít và chất lượng dấu vết kém;
- Dấu vết màu nâu đỏ dạng bắn trên tường trái quán 9999 (ký hiệu M5) là máu người, không phân tích được kiểu gen do lượng dấu vết ít và chất lượng dấu vết kém;
- Lưu kiểu gen của nạn nhân Nguyễn Ngọc A tại Phòng PC09 - Công an thành phố H.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 1446/KL-KTHS ngày 17/3/2023, Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận về nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Ngọc A, như sau:
- Trên cơ thể có rải rác các vết xây sát da;
- Vùng lưng trái có vết thương rách da hình khe mép gọn thành phẳng, một đầu tù, một đầu nhọn, xuyên vào trong ổ bụng, cắt vào động mạch chủ bụng và cực dưới thận trái, trong ổ bụng có nhiều máu đông;
- Kết quả xét nghiệm vi thể: Hình ảnh thương tích thận do vật sắc nhọn, dị vật đường hô hấp;
- Trong mẫu máu của nạn nhân có Ethanol, nồng độ là 74,6mg/100ml máu; ngoài ra không phát hiện các chất ma túy và chất độc.
Nguyên nhân chết: Mất máu cấp không hồi phục, vết thương vùng lưng trái nạn nhân do vật nhọn có một lưỡi sắc tác động dạng đâm gây nên. Dị vật trong lòng khí phế quản phù hợp với cơ chế khi nạn nhân hấp hối dẫn đến thức ăn từ dạ dày trào ngược lên lòng khí phế quản.
Chị T2 được mọi người đưa đi khám thương tại Bệnh viện Đ4, bị thương tích bàn tay phải vùng mô cái xuyên từ gan tay ra mu tay, đứt cơ mô cái, đứt gân gấp ngón II, đứt bán phần dây thần kinh giữa, mất gấp ngón II. Ngày 15/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã quyết định trưng cầu giám định thương tích của chị T2 nhưng chị T2 có đơn xin từ chối giám định. Cơ quan điều tra đã quyết định dẫn giải đối với chị T2 đi giám định nhưng chị T2 không chấp hành. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý hình sự đối với H về hành vi cố ý gây thương tích và
đã chuyển phần hồ sơ vi phạm của H đến UBND xã T, huyện T (là điểm xảy ra hành vi vi phạm) để xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với hành vi xô xát giữa anh Đ, anh Ngọc A và H, kết quả điều tra xác định sự việc xảy ra tại quán hát karaopke 9999 khi không có khách và không hoạt động, chỉ có nhóm của anh Đ ngồi ăn tại sân quán hát; sự việc diễn ra trong thời gian ngắn không gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; hành vi của Đ và H không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Đối với chị Lê Thị Khánh L, là người đã cho H vào phòng trọ của mình để tắm rửa và thay quần áo, kết quả điều tra xác định chị L không biết H vừa thực hiện hành vi giết người nên không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý chị L.
Đối với con dao gấp H sử dụng để đâm anh Ngọc A. Tại Cơ quan điều tra, H khai sau khi đâm anh Ngọc A xong đã cất dao vào trong túi áo. Trên đường di chuyển đưa anh Ngọc A đi cấp cứu, H đã làm rơi con dao trên đường, không xác định được vị trí rơi nên không thu giữ được con dao trên.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, gia đình Mai Văn H đã bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Ngọc A số tiền 250.000.000 đồng. Ông Nguyễn Đức T1 và bà Trần Thị H2 (là bố mẹ của anh Nguyễn Ngọc A) đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.
- Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 605/2023/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên bố: Bị cáo Mai Văn H phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn H 17 (mười bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ 29/01/2023.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm; phổ biến quyền kháng cáo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/01/2024, bị cáo Mai Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Mai Văn H giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản án sơ thẩm quy kết.
Bị cáo trình bày sau khi dùng dao đâm anh Ngọc A, đã cùng mọi người đưa anh Ngọc A đi cấp cứu tại bệnh viện và đầu thú tại cơ quan công an; đã tác động gia đình tự nguyện trả chi phí khám nghiệm tử thi, mai táng phí để khắc phục hậu quả ban đầu cho gia đình anh Ngọc A số tiền 40.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H tiếp tục nhắn về gia đình để bồi thường, khắc phục hậu quả với số tiền 250.000.000
đồng cho gia đình bị hại. Gia đình anh Ngọc A đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo.
Gia đình bị cáo xuất trình đơn đề nghị xác nhận hoàn cảnh khó khăn; bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương; đơn xin giảm nhẹ hình phạt của hội phụ nữ thôn, xã, trưởng thôn; bệnh án của ông ngoại, bố bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích, nội dung và các tình tiết của vụ án có quan điểm:
+ Về tố tụng:
Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Mai Văn H là trong hạn luật định và đúng quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 28/01/2023, Mai Văn H đến quán Karaoke hát cho nhau nghe 9999 ở thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để ăn uống cùng chị Lê Thùy T2, anh Nguyễn Xuân Đ, anh Vũ Văn G, anh Hoàng Văn Q, anh Nguyễn Đức Đ1 và anh Nguyễn Ngọc A. Trong lúc ăn uống, do trước đó giữa H và anh Đ có mâu thuẫn nên hai người cãi nhau. Anh Đ dùng chân phải đạp 02 - 03 cái vào phía sau lưng H thì được chị T2 can ngăn. Thấy vậy, anh Ngọc A từ phía sau Đ lao đến dùng tay đấm vào mặt H nhưng được những người ăn cùng can ngăn. Lúc này, anh Ngọc A đang quay lưng về phía H nên H lấy 01 con dao gấp ở trong người (mang theo từ trước) cầm trên tay phải đâm 01 nhát theo hướng từ trái qua phải trúng vào mạn sườn bên trái phía lưng của anh Ngọc A, gây ra vết thương xuyên vào trong ổ bụng, cắt vào động mạch chủ bụng và cực dưới thận trái làm Ngọc A gục xuống sân. H cất dao vào túi áo đang mặc rồi lấy xe máy cùng anh Đ chở anh Ngọc A đến bệnh viện cấp cứu. Đến 02 giờ ngày 29/01/2023, anh Ngọc A đã tử vong do mất máu cấp, không hồi phục.
Hành vi của bị cáo Mai Văn H đã phạm vào tội Giết người, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, sau khi phạm tội tích cực đưa bị hại đi cấp cứu; bị cáo ra đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho xong đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, nguyên nhân xảy ra vụ án là do mẫu thuẫn giữa bị cáo và anh Đ dẫn đến cãi chửi, thách thức nhau; bị cáo bị anh Đ đánh trước. Bị hại Ngọc A tuy không có mâu thuẫn với bị cáo nhưng cũng lao vào đấm vào mặt bị
cáo dẫn đến bị cáo bức xúc, thiếu kìm chế mà phạm tội; xét thấy bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại cấp phúc thẩm có bổ sung Văn bản thỏa thuận về việc gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại ngoài số tiền 250.000.000 đồng như bản án sơ thẩm ghi nhận thì còn khoản 40.000.000 đồng tiền chi phí chạy chữa, mai táng phí. Như vậy, tổng số tiền đã bồi thường là 290.000.000 đồng, gia đình bị hại đã nhận và không yêu cầu gì thêm. Việc bản án sơ thẩm chỉ công nhận số tiền 250.000.000 đồng là bị thiếu 40.000.000 đồng nên cần phải áp dụng tại cấp phúc thẩm. Gia đình bị cáo còn bổ sung tài liệu là các huân chương kháng chiến của ông nội, bà nội bị cáo. Xét thấy đây là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm cần được áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Do đó, có cơ sở giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa bản án hinh sự sơ thẩm số 605/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giảm hình phạt cho bị cáo từ 01 đến 02 năm tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo đã có tác động để gia đình bị cáo đến thăm hỏi và bồi thường đầy đủ cho gia đình bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo đã bồi thường 250.000.000 đồng, nhưng thực tế gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 290.000.000 đồng; đây là một tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, số tiền bồi thường nhiều hơn 40.000.000 đồng, gia đình bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đã ra đầu thú và đưa bị hại đi cấp cứu nhưng rất tiếc bị hại đã không qua khỏi; gia đình có công với cách mạng, hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của địa phương, trưởng thôn và hội phụ nữ; ông và bố của bị cáo thường xuyên ốm đau bệnh tật, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Trong vụ án này, bị cáo phạm tội cũng do một phần lỗi của bị hại đã đánh bị cáo trước dẫn đến bị cáo kích động mạnh về tinh thần. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 3, Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Kháng cáo của bị cáo Mai Văn H trong hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung
[2.1] Tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 28/01/2023, Mai Văn H đến quán karaoke hát cho nhau nghe 9999 ở thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để ăn uống cùng chị Lê Thùy T2, các anh Nguyễn Xuân Đ, Vũ Văn G, Hoàng Văn Q, Nguyễn Đức Đ1 và Nguyễn Ngọc A. Trong lúc ăn uống, do trước đó giữa H và anh Đ có mâu thuẫn nên hai người cãi nhau. Anh Đ dùng chân phải đạp 02 - 03 cái vào phía sau lưng H thì được chị T2 can ngăn, Thấy vậy, anh Ngọc A từ phía sau Đ lao đến dùng tay đấm vào mặt H nhưng được những người ăn cùng can ngăn. Lúc này, anh Ngọc A đang quay lưng về phía H nên H lấy con dao gấp ở trong người (mang theo từ trước) cầm trên tay phải đâm một nhát theo hướng từ trái qua phải trúng vào mạn sườn bên trái phía lưng của anh Ngọc A, gây ra vết thương xuyên vào trong ổ bụng, cắt vào động mạch chủ bụng và cực dưới thận trái làm Ngọc A gục xuống sân. H cất dao vào túi áo đang mặc rồi lấy xe máy cùng anh Đ chở anh Ngọc A đến bệnh viện cấp cứu. Đến 02 giờ ngày 29/01/2023, anh Ngọc A đã tử vong do mất máu cấp, không hồi phục.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Mai Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; phạm tội khi tuổi đời còn trẻ (chưa đến 20 tuổi), suy nghĩ bồng bột, thiếu kìm chế và cũng có một phần lỗi do người bị hại không có mâu thuẫn nhưng đã đấm vào mặt bị cáo trước; sau khi xảy ra sự việc đã tích cực đưa người bị hại đi bệnh viện cấp cứu, đồng thời gia đình bị cáo cũng đã hỗ trợ chi trả tiền cấp cứu, viện phí và mai táng phí với số tiền 40.000.000 đồng. Bị cáo đã đến Công an huyện T, Hà Nội đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội với thái độ ăn năn hối cải. Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình anh Ngọc A số tiền 250.000.000 đồng. Như vậy, cần ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh Ngọc A hai lần với tổng số tiền 290.000.000 đồng; gia đình anh Ngọc A đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình xuất trình tài liệu thể hiện, bị cáo có: Ông nội, bà nội tham gia kháng chiến được nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương, bằng khen; đại diện Hội liên hiệp phụ nữ xã N và Trưởng thôn L, xã N, huyện T cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xác nhận bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính; ông ngoại và bố của bị cáo thường xuyên ốm đau bệnh tật; đây là các tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 17 năm tù là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và của luật sư.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Mai Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Văn H, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 605/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận gia đình bị cáo Mai Văn H đã bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Ngọc A tổng số tiền 290.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo Mai Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tuyên bố bị cáo Mai Văn H phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Văn H 15 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2023.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Nam Thành |
Bản án số 487/2024/HSPT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về giết người
- Số bản án: 487/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn H phạm tội giết người
