Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19/8/2024

V/v: Tranh chấp về hôn nhân gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hoàng Long, bà Vũ Thị Lan Anh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 5 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 46/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966. (có mặt)

Cư trú: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970. (vắng mặt)

Quê quán: phường Gia Đông, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Cư trú: Khu phố Bến Hồ, phường Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.

Ông Nguyễn Văn T kết hôn với bà Nguyễn Thị L vào năm 1989, kết hôn do hai bên tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì đã nảy sinh mâu thuẫn.

Theo phía ông T trình bày:

Sau khi cưới vợ chồng về chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì đã nảy sinh mâu thuẫn. Kể từ thời điểm sau khi bà L sinh con vào năm 1990 thì vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng. Sau đó bà L đã bỏ về quê sinh sống mà không sống cùng với hai bố con ông nữa. Kể từ năm 1991 đến nay vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau. Trong suốt hơn 30 năm nay vợ chồng gần như không có mối quan hệ gì trừ lần lo xây dựng gia đình cho con gái, còn vợ chồng không có quan hệ, không chung sống với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay ông muốn dứt điểm mối quan hệ vợ chồng, vả lại vợ chồng cũng không còn tình cảm gì nữa nên ông đề nghị Tòa án giải quyết để cho vợ chồng ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. Do con đã thành niên nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con khi ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với phía bà L: Tòa án đã tiến hành thông báo văn bản tố tụng cho bà L theo địa chỉ khu phố B, phường H, thị xã T mà ông T cung cấp, tuy nhiên phía bà L không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại gia đình bà L thì xác định được bà L không còn thường xuyên cư trú tại địa chỉ mà ông T cung cấp, bà L cũng không cung cấp địa chỉ đang cư trú ở đâu. Phía gia đình bà L cho biết bà L vào M làm ăn sinh sống nhưng vẫn liên lạc với gia đình. Phía gia đình xác nhận đã thông tin cho bà L biết việc ông T xin ly hôn. Gia đình cũng cam kết nhận giấy tờ và thông báo lại cho bà L biết nhưng bà L không về để giải quyết vụ việc được. Gia đình cũng xác định do vợ chồng ông T, bà L đã lâu không còn chung sống với nhau nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn theo nguyện vọng của ông T.

Tại phiên tòa ông T xác định vợ chồng không thể quay lại chung sống với nhau được nữa nên ông vẫn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn để hai bên dứt điểm không còn vướng bận nhau nữa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác cũng như nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Phía bà L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần 02 thông qua gia đình bà L nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX tiến hành việc xét xử vắng mặt đối với bà L là có căn cứ.

Về giải quyết vụ án: Thấy rằng vợ chồng sống ly thân thời gian đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho ông T được ly hôn bà L. Do con chung đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung không xem xét giải quyết do ông T, bà L không có yêu cầu. Về án phí: Ông T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Nguyễn Văn T được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị L có nơi đăng ký thường trú tại thị xã T. Do vậy việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ. Đối với bà L mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L là đúng quy định.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T kết hôn với bà Nguyễn Thị L vào năm 1989, kết hôn do tự nguyện và có đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới vợ chồng về chung sống được thời gian ngắn thì đã nảy sinh mâu thuẫn. Kể từ thời điểm năm 1991 đến nay vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống với nhau nữa. Theo lời khai của ông T cũng như qua xác minh tại gia đình bà L thì vợ chồng không còn chung sống thời gian đã lâu, tình cảm vợ chồng đã không còn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của phía ông T, xử cho ông T được ly hôn bà Nguyễn Thị L.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. Do con chung đã thành niên nên không xem xét giải quyết việc nuôi con khi ly hôn.

[2.3]. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do ông T không yêu cầu.

[3]. Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn bà Nguyễn Thị L.
  2. Về con chung: Con chung đã thành niên nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do ông T không yêu cầu.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông T đã nộp theo biên lai thu số 0003388 ngày 5/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  5. Về quyền kháng cáo: Ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND thị xã Thuận Thành.
  • - Chi cục THADS thị xã Thuận Thành.
  • - UBND xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Th với bà Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger