Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 43/2024/HSST

Ngày 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành, ông Nguyễn Văn Đức.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B. Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS, ngày 8 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 6 năm 2024 đối với:

Bị cáo Nông Văn L, sinh năm 1995.

HKTT: Xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nông Văn L1 (đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1953. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con út. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (bị cáo có mặt tại phiên tòa ở điểm cầu T tạm giam)

Người bào chữa:

Bà Nguyễn Thị Lan A – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt tại điểm cầu Tòa án)

Địa chỉ: Phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 ngày 30/01/2024, tại cây xăng T thuộc khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh tổ công tác của Công an phường T làm nhiệm vụ tuần tra đã phát hiện bắt quả tang Nông Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái của L đang mặc 01 túi nilon màu trắng viền kẻ đỏ, bên trong túi nilon có 02 gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong mỗi gói chứa các cục chất màu trắng. Lạc khai đây là ma túy H1, L vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định trưng cầu giám định 241/QĐ-CSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định số vật chứng đã thu giữ của L. Tại Kết luận giám định số 517/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Các cục chất bột màu trắng bên trong 02 gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu vàng gửi giám định có khối lượng là 0,1383 gram; Là ma túy; Loại ma túy Heroin.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTT ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Nông Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo L khai xuống Bắc Ninh làm công nhân tại khu công nghiệp P, thành phố B từ năm 2022 và thuê trọ tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Bị cáo là người nghiện ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 30/01/2024 bị cáo nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng nên đã đi bộ ra khu vực ngã tư khu công nghiệp P để thuê xe ôm đi mua ma túy. Tại đây bị cáo gặp 01 người đàn ông làm nghề lái xe ôm và hỏi “Anh biết ở đâu bán hàng trắng không”. Người đàn ông này trả lời “ở thị xã T có người bán hàng trắng rẻ lắm”. Nghe vậy, L bảo người đàn ông này chở L đến thị xã T để mua ma túy. Người đàn ông này đồng ý, rồi chở L đến thị xã T. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, người đàn ông điều khiển xe ôm chở L đi qua cây xăng T thuộc khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh khoảng 100m thì gặp 01 người đàn ông không quen biết đang đứng ở lề đường bên phải theo hướng đi. Lúc này, người đàn ông chở xe ôm dừng xe lại và bảo L ra mua ma túy. Lạc hiểu là người đàn ông đứng ở lề đường có ma túy bán nên xuống xe và mua của người đàn ông này số tiền ma túy 200.000 đồng. Người đàn ông này cầm tiền rồi đưa cho L 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ đỏ, bên trong túi nilon có 02 gói được bọc ngoài bằng giấy bạc màu vàng. Lạc mở 02 gói giấy bạc màu vàng ra thấy bên trong đều có chứa các cục chất màu trắng. Lạc hiểu đó là ma túy Heroine nên cầm cất vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc. Sau đó người đàn ông này đi đâu thì L không biết. Lạc đứng chờ người đàn ông chở xe ôm khoảng 05 phút nhưng không thấy quay lại. Vì vậy, L đi bộ hướng về cây xăng T. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, khi L vừa đi đến cây xăng T thì bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự xử phạt L từ 13 đến 19 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền và miễn án phí đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B là mẫu vật còn lại sau giám định đang lưu giữ tại kho vật chứng của Công an thị xã T.

Bị cáo L nhận tội, không tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo L cũng xác định bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo lại là người sống trong vùng đặc biệt khó khăn, việc nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xem xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất cũng như miễn án phí cho bị cáo. Người bào chữa không có ý kiến tranh luận khác.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nông Văn L, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Thể hiện: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 30/01/2024, tại cây xăng T thuộc khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Công an phường T làm nhiệm vụ tuần tra đã phát hiện, bắt quả tang Nông Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,1383 gam gram ma túy, loại ma túy Heroine theo như Kết luận giám định số: 517/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.

Bị cáo Nông Văn L đã trên 18 tuổi và có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã cố ý tàng trữ 0,1375 gram ma túy Heroine là chất ma túy cấm lưu hành được Nhà nước quản lý theo quy định. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nông Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.

[3]. Về nguyên nhân, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội:

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân và bị cáo là người nghiện chất ma tuý. Bị cáo tàng trữ ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt, để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đối với bị cáo.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đồng thời tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, bị cáo thuộc hộ nghèo sinh sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt, để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Bên cạnh đó khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến yếu tố bị cáo sống trong vùng có điều kiện khó khăn, việc nhận thức pháp luật còn hạn chế như ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa để xem xét, cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền. Xét thấy, bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, mục đích bị cáo tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5]. Liên quan đến vụ án có: Đối với người đàn ông chở xe ôm ở khu vực ngã tư khu công nghiệp P, thành phố B chở bị cáo đến thị xã T để mua ma túy ngày 30/01/2024. Bị cáo không biết tuổi, họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ở gần vị trí gần cây xăng T thuộc khu phố N, phường T, thị xã T ngày 30/01/2024. Bị cáo cũng không biết tuổi, họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông bán ma túy. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh chưa có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì thư được niêm phong theo quy định bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo như Kết luận giám định số: 517/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, khu vực bị cáo sinh sống thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tại phiên toà bị cáo, người bào chữa đề nghị xin được miễn án phí, nên cần miễn án phí cho bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử.

  1. Xử phạt bị cáo Nông Văn L 13 (Mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 31/01/2024 là ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.
  2. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2024 để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nông Văn L, sinh năm 1995 ở xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy” (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 16/5/2024 giữa Công an thị xã và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
  4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhân

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND thị xã Thuận Thành.
  • - Công an thị xã Thuận Thành.
  • - Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nông Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger