Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lộc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Lương

Bà Trương Mai Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử hình sự của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

TRƯƠNG MẬU L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày:

15/02/1988 tại Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trương N; Sinh năm: 1966; Nghề nghiệp: Đánh cá; Con bà: Nguyễn Thị Ng; Sinh năm: 1965; Nghề nghiệp: Nội trợ; Ông, bà đều trú tại: Thôn Hà Thôn, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Anh chị em ruột: Có 04 người, Long là con thứ hai trong gia đình, chưa có vợ con.

Tiền án: 02 tiền án.

Bản án số: 46/2019/HS-ST ngày 20/9/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn đến ngày 22/7/2020 ra trại, đã thi hành xong án phí.

Bản án số: 42/2021/HS-ST ngày 16/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án xác định tái phạm), chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn đến ngày 20/9/2022 ra trại, đã thi hành xong án phí, khoản trách nhiệm dân sự cơ quan thi hành án chưa nhận được yêu cầu.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/6/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn đến ngày 23/01/2016 ra trại, đã thi hành xong án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Hoàng Minh H, sinh năm 1959; địa chỉ: phường Bắc Nghĩa, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  2. Anh Lê Đình L, sinh năm 2003; địa chỉ: xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2004; địa chỉ: phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  4. Ông Võ Sĩ Ch, sinh năm 1959; địa chỉ: xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  5. Anh Hoàng Chí Tr, sinh năm 1973; địa chỉ:, thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  6. Anh Võ D, sinh năm 1976; địa chỉ:, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  7. Anh Nguyễn Đình Ngh, sinh năm 1992; địa chỉ: phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  8. Anh Lò Văn M, sinh năm 2001; địa chỉ:, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
  9. Ông Phạm Bảo Ng, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dân phố, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  10. Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  11. Chị Lại Thị Diệu Th, sinh năm 1975; địa chỉ: xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  12. Chị Đặng Thị K, sinh năm 1980; địa chỉ: phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  13. Chị Phan Thị Ngọc B, sinh năm 1997; địa chỉ: xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Lê Thị Phương Th, sinh năm 1994; địa chỉ: thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  • + Anh Lê Hồng S, sinh năm 1997; địa chỉ: phường Nam Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 13/12/2023, Trương Mậu L có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” thực hiện 13 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Cụ thể:

Vụ thứ 01: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 10/11/2023, Trương Mậu L đi bộ dọc đường Lý Thái Tổ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà nghỉ “50K” thuộc tổ dân phố 1 Phương Xuân, phường Bắc Nghĩa. L đột nhập vào phòng trọ của ông Hoàng Minh H lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen của ông H để trên giường ngủ rồi tẩu thoát. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Long đến cửa hàng điện thoại Anh Tr ở số 118 đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường Đồng Phú bán điện thoại di động trên cho chị Lê Thị Phương T lấy 700.000 đồng, tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen trị giá 1.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ từ chị Lê Thị Phương Th và trả lại cho ông Hoàng Minh H điện thoại di động trên, ông Hiệu đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Chị Lê Thị Phương Th không yêu cầu Long bồi hoàn số tiền 700.000 đồng.

Vụ thứ 02: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, L đi bộ đến nhà nghỉ Hoàng Hoa ở số 140 đường Lê Lợi, phường Đức Ninh Đông. Khi đi ngang qua phòng 303, L dùng tay mở cửa phòng, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13ProMax màu vàng của anh Lê Đình L là khách thuê phòng để ở trên giường. Sau đó, L bán điện thoại di động trộm được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 2.000.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu vàng trị giá 18.000.000 đồng.

Anh Lê Đình L yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 18.000.000 đồng.

Vụ thứ 03: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/11/2023, Long đi bộ đên ngõ 30 Phạm Hồng Thái, tổ dân phố 1, phường Đồng Phú. Khi đến phòng trọ của anh Nguyễn Văn V, L dùng tay kéo cửa phòng, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh để ở trên giường. Sau đó, L bán 02 điện thoại di động trộm được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 1.000.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu trắng trị giá 9.180.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh trị giá 13.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 22.680.000 đồng.

Anh Nguyễn Văn V yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 22.680.000 đồng.

Vụ thứ 04: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, L đi bộ dọc đường Nguyễn Thị Định tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà ông Võ Sĩ Ch ở ngõ 91 đường Nguyễn Thị Định thuộc thôn Đồng Dương, xã Bảo Ninh. Phát hiện cửa nhà bếp không khóa, L đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen để trên giường rồi tẩu thoát. Sau đó, Long bán điện thoại di động trộm được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 600.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen trị giá 2.700.000 đồng.

Ông Võ Sĩ Ch yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 2.700.000 đồng.

Vụ thứ 05: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/11/2023, L đi bộ dọc đường Nguyễn Thị Định tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến phòng trọ của anh Hoàng Chí Tr ở nhà trọ Phú Thịnh thuộc thôn Trung Bính, xã Bảo Ninh. L dùng tay mở cửa phòng trọ, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen của anh Tr để ở trên giường. Sau đó, Long bán 02 điện thoại di động trộm được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 500.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh trị giá 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen trị giá 3.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 6.000.000 đồng.

Anh Hoàng Chí Tr không yêu cầu L bồi thường về phần dân sự.

Vụ thứ 06: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 02/12/2023, L đi bộ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đến nhà anh Võ D ở số 179 đường Nguyễn Thị Định. L dùng tay mở cửa nhà, đột nhập vào trong lấy trộm 01 đồng hồ đeo tay nam nhãn hiệu Rolex, màu đen để ở trên bàn và 1.000.000 đồng ở trong túi quần treo trên móc trong phòng. Sau đó, L bán đồng hồ trộm được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 500.000 đồng, hiện không thu hồi được. Số tiền trộm được và bán đồng hồ L đã tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 đồng hồ đeo tay nam nhãn hiệu Rolex, màu đen trị giá 6.300.000 đồng.

Anh Võ D không yêu cầu L bồi thường về phần dân sự.

Vụ thứ 07: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, L đi bộ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đến dãy nhà trọ ở số 31, đường 18/8 thuộc tổ dân phố 5, phường Đồng Phú. L dùng tay mở cửa phòng trọ của anh Nguyễn Đình Ngh, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng của anh Ng để ở trên nệm giữa phòng rồi tẩu thoát. Sau đó, L bán điện thoại di động trộm được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 2.000.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng trị giá 6.300.000 đồng.

Anh Nguyễn Đình Ng yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 6.300.000 đồng.

Vụ thứ 08: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04/12/2023, L đi bộ ngang nhà anh Lò Văn M đang thuê ở đường Bùi Quốc Khái thuộc thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh, rồi dùng tay mở cửa bên hông nhà, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu xanh của anh Mạnh để ở trên giường. Sau đó, L bán điện thoại di động cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 1.500.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu xanh trị giá 8.000.000 đồng.

Anh Lò Văn M không yêu cầu Long bồi thường về phần dân sự.

Vụ thứ 09: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 05/12/2023, L đi bộ đến ngõ 86 đường Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 1, phường Đồng Phú. Khi đến phòng trọ của ông Phạm Bảo Ng, L dùng tay kéo cửa phòng, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S5 màu trắng của ông Ng để ở trên giường rồi đem bán được cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 700.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S5 màu trắng trị giá 1.500.000 đồng. Ông Phạm Bảo Ng yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 1.500.000 đồng.

Vụ thứ 10: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/12/2023, L đi bộ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đến nhà chị Phạm Thị Đ ở ngõ 451 đường Nguyễn Thị Địn thuộc thôn Hà Thôn, xã Bảo Ninh. L dùng tay kéo cửa bên hông nhà, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, L đến bán cho anh Lê Hồng S ở số nhà 21, ngõ 498 đường Trần Hưng Đạo, phường Nam Lý điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu xanh lấy 2.500.000 đồng, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen lấy 800.000 đồng. Anh S đã bán điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu xanh cho một người khách không rõ lý lịch, hiện không thu giữ được. Còn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, anh Scất giữ để sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu xanh trị giá 16.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen trị giá 1.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 17.800.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ từ anh Lê Hồng S và trả lại cho chị Phạm Thị Định 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen.

Chị Phạm Thị Định yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 16.000.000 đồng. Anh Lê Hồng S không yêu cầu L bồi hoàn số tiền 800.000 đồng.

Vụ thứ 11: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 09/12/2023, Lđi bộ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đến nhà chị Lại Thị Diệu Th ở ngõ 334 đường Nguyễn Thị Định thuộc thôn Hà Thôn, xã Bảo Ninh. L dùng tay mở cửa phía sau nhà, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu trắng để ở trên giường rồi đem bán cho một người qua đường, không rõ lý lịch lấy 500.000 đồng, tiêu xài hết, hiện không thu hồi được tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu trắng trị giá 900.000 đồng.

Chị Lại Thị Diệu Th không yêu cầu L bồi thường về phần dân sự.

Vụ thứ 12: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 11/12/2023, L đi bộ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đến dãy nhà trọ ở số 22, đường 18/8 thuộc tổ dân phố 6, phường Đồng Phú, L dùng tay mở cửa phía sau phòng trọ của chị Đặng Thị K, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng để ở bàn trang điểm trong phòng ngủ. Rồi qua phòng bếp lấy trộm 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu TISSOT, quai kim loại màu bạc để trong tủ kính. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, L đến bán cho anh Lê Hồng S ở số nhà 21, ngõ 498 đường Trần Hưng Đạo, phường Nam Lý điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen lấy 900.000 đồng, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng lấy 600.000 đồng, tiêu xài hết. Anh S đã bán điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng cho một người khách không rõ lý lịch, hiện không thu giữ được. Còn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, anh S cất giữ để sử dụng. Đồng hồ đeo tay không bán được, L đã vứt ở đâu không nhớ rõ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen trị giá 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng trị giá 1.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nữ nhãn hiệu TISSOT, quai kim loại màu bạc trị giá 1.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 4.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ từ anh Lê Hồng Sơn và trả lại cho chị Đặng Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen. Chị K không yêu cầu L bồi thường về phần dân sự. Anh Lê Hồng Sơn không yêu cầu Long bồi hoàn số tiền 900.000 đồng.

Vụ thứ 13: Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 13/12/2023, L đi bộ tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đến nhà chị Phan Thị Ngọc B ở ngõ 334 đường Nguyễn Thị Định thuộc thôn Hà Thôn, xã Bảo Ninh. Thấy cửa nhà khép hờ, Long mở cửa, đột nhập vào trong lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng để ở trên giường. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Long đến bán cho anh Lê Hồng S ở số nhà 21, ngõ 498 đường Trân Hưng Đạo, phường Nam Lý điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu vàng lấy 1.700.000 đồng, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max lấy 1.300.000 đồng, tiêu xài hết. Anh Sơn đã bán 02 điện thoại di động trên cho một người khách không rõ lý lịch, hiện không thu giữ được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐG ngày 10/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax màu vàng trị giá 9.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng trị giá 5.200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 14.200.000 đồng.

Chị Phan Thị Ngọc B yêu cầu Trương Mậu Long bồi thường 14.200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKSĐH-KT ngày 19 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Trương Mậu L ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo Trương Mậu L đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Mậu L phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trương Mậu L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc Trương Mậu L bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là: 81.380.000 đồng. Cụ thể: Anh Lê Đình L số tiền 18.000.000 đồng; Anh Nguyễn Văn V số tiền 22.680.000 đồng; Ông Võ Sĩ Ch số tiền 2.700.000 đồng; Anh Nguyễn Đình Ngh số tiền 6.300.000 đồng; Ông Phạm Bảo Ng số tiền 1.500.000 đồng; Chị Phạm Thị Đ số tiền 16.000.000 đồng; Chị Phan Thị Ngọc B số tiền 14.200.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Trương Mậu L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng tài sản và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 13/12/2023, Trương Mậu L có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã thực hiện 13 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tổng trị giá tài sản 111.380.000 đồng. Trương Mậu L phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi của Trương Mậu L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

[3] Đánh giá tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, có trình độ nhận thức về xã hội, có sức khỏe để lao động nuôi sống bản thân, nhưng với bản tính chây lười lao động, thích hưởng lợi từ sức lao động của người khác, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, vì muốn nhanh chóng có tiền và hưởng lợi từ sức lao động của người khác nên đã thực hiện việc chiếm đoạt tiền, tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân rất xấu đã từng nhiều lần bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hiện có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, chấp hành pháp luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội mà lại phạm tội. Điều đó thể hiện sự xem thường pháp luật trong con người bị cáo. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình, xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Trương Mậu L phạm tội 02 lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm nguy hiểm quy định tại đoạn 2 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ từ chị Lê Thị Phương Th và trả lại cho ông Hoàng Minh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen. Thu giữ từ anh Lê Hồng S và trả lại cho chị Phạm Thị Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen. Thu giữ từ anh Lê Hồng S và trả lại cho chị Đặng Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen. Sau khi nhận lại tài sản, ông Hoàng Minh H, chị Phạm Thị Đ, chị Đặng Thị K không có ý kiến gì và việc xử lý vật chứng nêu trên của cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Đình L yêu cầu Trương Mậu L bồi thường 18.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn V yêu cầu L bồi thường 22.680.000 đồng. Ông Võ Sĩ Ch yêu cầu L bồi thường 2.700.000 đồng. Anh Nguyễn Đình Ngh yêu cầu L bồi thường 6.300.000 đồng. Ông Phạm Bảo Ng yêu cầu L bồi thường 1.500.000 đồng. Chị Phạm Thị Đ yêu cầu L bồi thường 16.000.000 đồng. Chị Phan Thị Ng Bích yêu cầu L bồi thường 14.200.000 đồng. Do một số tài sản trộm cắp không thu hồi được, các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường, xét yêu cầu của các bị hại buộc bị cáo bồi thường là có cơ sở cần chấp nhận. Cần áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc Trương Mậu L bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là: 81.380.000 đồng. Cụ thể: Anh Lê Đình L số tiền 18.000.000 đồng; Anh Nguyễn Văn V số tiền 22.680.000 đồng; Ông Võ Sĩ Ch số tiền 2.700.000 đồng; Anh Nguyễn Đình Ngh số tiền 6.300.000 đồng; Ông Phạm Bảo Ng số tiền 1.500.000 đồng; Chị Phạm Thị Đ số tiền 16.000.000 đồng; Chị Phan Thị Ngọc B số tiền 14.200.000 đồng.

Ông Hoàng Minh H, anh Hoàng Chí Tr, Võ D, Lò Văn M, Chị Lại Thị D Th, Đặng Thị K không yêu cầu L bồi thường về phần dân sự. Anh Lê Hồng S, chị Lê Thị Phương Th không yêu cầu L bồi hoàn số tiền đã mua điện thoại di động nên không xem xét.

[8] Trong vụ án có anh Lê Hồng S, chị Lê Thị Phương Th là người mua tài sản do Trương Mậu L trộm cắp mà có nhưng không biết nên không bị xử lý. Đối với những người qua đường mua tài sản do Trương Mậu L trộm cắp mà có nhưng không rõ lý lịch nên không xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9] Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm: 81.380.000 đồng x 5% = 4.069.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Mậu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trương Mậu L 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/12/2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, xử:

    Buộc bị cáo Trương Mậu L bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là: 81.380.000 đồng. Cụ thể: Anh Lê Đình L số tiền 18.000.000 đồng; Anh Nguyễn Văn V số tiền 22.680.000 đồng; Ông Võ Sĩ Ch số tiền 2.700.000 đồng; Anh Nguyễn Đình Ngh số tiền 6.300.000 đồng; Ông Phạm Bảo Ng số tiền 1.500.000 đồng; Chị Phạm Thị Đ số tiền 16.000.000 đồng; Chị Phan Thị Ngọc B số tiền 14.200.000 đồng.

  4. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

    - Bị cáo Trương Mậu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.069.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 04/6/2024. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thành phố Đồng Hới;
  • - Công an thành phố Đồng Hới;
  • - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới;
  • - THA phạt tù;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm tài sản nhiều lần
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger