Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST.

Ngày: 28-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn, bà Nguyễn Thị Liệu

    Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:

    Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 270/2024/TLST-HS ngày 20/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 14/01/2025 đối với:

  • - Bị cáo: Huỳnh Ngọc A – sinh năm 1976 tại Quảng Ngãi (Có mặt).
  • Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê, trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh X – 1943 và bà Đinh Thị Đ (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T – 1975 (đã ly hôn), có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không.
  • Bị cáo được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Huỳnh X – 1943 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Ngọc Q – 1984, thuộc Văn phòng L (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số C QL B, tổ G, khu phố H, thị trấn Đ, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị hại: Ông Lữ P – 1967 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người làm chứng: Ông Lê Duy P1 – 1958 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Lữ P là anh rể với bị cáo, trước đây giữa hai bên có mâu thuẫn với nhau về tranh chấp đất đai. Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, trong lúc đang làm rẫy tại ấp C, xã P, huyện Đ thì thấy ông P đang làm rẫy cạnh bên nên bị cáo cầm theo 01 cây cuốc đi tới ông P để nói chuyện, sau đó hai bên xảy ra tranh cãi bị cáo dùng 02 tay cầm cây cuốc lao đến đánh trúng vào tay trái và người của ông P làm ông P ngã vào hàng rào kẽm gai. Bị cáo tiếp tục chạy đến, nằm đè trên người ông P và dùng tay đánh nhiều cái vào người, vào mặt ông P. Lúc này ông Lê Duy P1 (là người làm công cho ông P) chạy đến can ngăn. Sau đó ông P được đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị và làm đơn yêu cầu khởi tố hành vi của bị cáo.

Hậu quả:

- Căn cứ kết luận giám định pháp y về thương tích số 0110/TgT/2023 ngày 22/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích bị hại như sau: Sây sát da vai phải để lại sẹo kích thước 3,5x0,3cm, tỷ lệ: 02%; sẹo mặt trước 1/3 giữa cánh tay phải kích thước 0,5x0,3cm, tỷ lệ: 01%; sẹo mặt trước khuỷu phải kích thước 0,3x0,2cm, tỷ lệ: 01%; sẹo mặt trước khuỷu phải kích thước 1,3x0,2cm, tỷ lệ: 01%; vết biến đổi sắc tố da khuỷu phải, tỷ lệ: 0,5%; sẹo mặt trước 1/3 trên cẳng tay phải kích thước 0,3x0,1cm, tỷ lệ: 01%; sẹo mặt trước trong 1/3 giữa cẳng tay phải kích thước 0,5x0,2cm, tỷ lệ: 01%; sẹo gan bàn tay phải kích thước 1,5x0,2cm, tỷ lệ: 01%; vết biến đổi sắc tố da mặt ngoài khoeo chân phải, tỷ lệ: 0,5%; sẹo 1/3 trên mặt trước cẳng chân phải kích thước 0,8x0,3cm, tỷ lệ: 01%; sẹo 1/3 trên mặt ngoài cẳng chân phải kích thước 1,5x0,3cm, tỷ lệ: 01%; sẹo 1/3 giữa mặt sau ngoài cẳng chân phải kích thước 01x0,4cm, tỷ lệ: 01%; sẹo 1/3 giữa mặt trước trong cẳng chân phải kích thước 1,8x0,3cm, tỷ lệ: 01%. Không định tỷ lệ cho chấn thương đầu, tai trái và thương tích ngực, bụng, sây sát da bàn tay phải, tay trái hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của ông Lữ P theo phương pháp cộng tại thông tư là: 12%.

- Căn cứ kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0930/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 29/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận cơ chế hình thành vết thương, chiều hướng và lực tác động đối với thương tích của ông Lữ P như sau: Sưng nề thái dương trái, tai trái đã khỏi. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng thái dương trái, tai trái với lực vừa đủ theo hướng trái qua phải, từ ngoài vào trong gây nên. Sây sát da vai phải để lại sẹo kích thước 3,5x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng vai phải với lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới, chếch từ trước ra sau hoặc gần song song với bề mặt da gây nên. Sây sát da ngực bụng đã khỏi không để lại dấu vết. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng ngực bụng với lực vừa đủ gây nên. Không xác định được chiều hướng tác động do sây sát da ngực bụng đã khỏi. Seo mặt trước 1/3 giữa cánh phải kích thước 0,5x0,3cm kèm đuôi sây sát da kích thước 01x0,3. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng mặt trước trong 1/3 giữa cánh tay phải với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải và chếch từ trên xuống dưới hoặc gần song song với mặt da gây nên. Sẹo mặt trước khuỷu phải kích thước 1,3x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sác nhọn tác động vào vùng mặt trước khuỷu phải với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song với mặt da gây nên. Vết biến đổi sắc tố da mặt trước khuỷu phải không thẳng hàng kích thước 2,5x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật tày tác động vào vùng mặt trước khuỷu phải không thẳng hàng với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song với mặt da gây nên. Sẹo mặt trước 1/3 trên cẳng tay phải kích thước 0,3x0,1. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng mặt trước 1/3 trên cẳng tay phải với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song với mặt da gây nên. Trong trường hợp khi nạn nhân bị tác động vùng đầu theo phản xạ tự nhiên nạn nhân đưa tay lên đỡ khi đó sẽ có chiều từ trên xuống dưới. Sẹo gan bàn tay phải kích thước 1,5x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng gan bàn tay phải với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau gây nên, hoặc tùy thuộc vào vị trí bàn tay bị tác động. Nhiều vết sây sát da nhỏ bàn tay phải đã khỏi không để lại dấu vết và tay trái hiện không thấy tổn thương. Không xác định được vật gây và chiều hướng tác động do nhiều vết say sát da nhỏ bàn tay phải đã khỏi không để lại dấu vết và hiện nay tay trái không tổn thương.Vết xước da mặt sau ngoài khoeo chân phải để lại vết biến đổi sắc tố da kích thước 3,5x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng mặt sau ngoài khoeo chân phải với lực vừa đủ theo hướng từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên và tiếp tuyến với mặt da gây nên. Sẹo 1/3 trên mặt trước cẳng chân phải kích thước 0,8x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng mặt trước cẳng chân phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong hoặc gần song song với bề mặt da gây nên. Sẹo 1/3 giữa mặt sau ngoài cẳng chân phải kích thước 01x0,4cm. Tổn thương này do vật sắc, vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng mặt sau ngoài cẳng chân phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong hoặc gần song song với bề mặt da gây nên. Sẹo 1/3 giữa mặt trước trong cẳng chân phải kích thước 1,8x0,3. Tổn thương này do vật tày có cạnh hoặc sắc nhọn tác động vào vùng mặt trước trong cẳng chân phải với lực vừa đủ theo hướng từ trước ra sau hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.

- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 291/KL-VPYTW ngày 06/5/2024 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B, kết luận năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:

  • + Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8 – ICD.10).
  • + Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng vụ án: 01 cây cuốc cán bằng gỗ dài 1,6m, lưỡi sắt dài 20cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 9.000.000 đồng, nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 345/CT-VKSÐQ, ngày 14/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 cây cuốc cán bằng gỗ dài 1,6m, lưỡi sắt dài 20cm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.

Ý kiến của người bào chữa: Về tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán.

Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[1.1] Về sự vắng mặt của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa có đơn xin xét xử vắng mặt, đã gửi bản bào chữa cho Hội đồng xét xử đồng thời bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa do đó căn cứ khoản 2 Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, Kết luận giám định cơ chế tổn thương, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/11/2022, tại rẫy của ông Lữ P ở ấp C, xã P, bị cáo dùng 01 cây cuốc cán bằng gỗ dài 1,6m, lưỡi bằng sắt dài 20cm đánh vào tay trái và người của ông P, khi bị hại té ngã vào hàng kẽm gai thì bị cáo tiếp tục nằm đè lên bị hại và dùng tay đánh nhiều cái vào người, mặt bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.

Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, phạm tội lần đầu, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[6] Về hình phạt: Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo đã dùng cây cuốc (là hung khí nguy hiểm) trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất ổn hoang mang đến trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy tại thời điểm gây án và hiện nay bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng chế định án treo, giao bị cáo cho ủy ban nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe và nhằm thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 cây cuốc cán bằng gỗ dài 1,6m, lưỡi sắt dài 20cm là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 9.000.000đ cho bị hại, nay bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quan điểm bào chữa của người bào chữa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận, đối với hình phạt Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét.

[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

  • -Tịch thu tiêu hủy 01 cây cuốc cán bằng gỗ dài 1,6m, lưỡi sắt dài 20cm.
  • (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị hại và người bào chữa tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng vắng mặt;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Công an huyện ĐQ;
  • - Chi cục THADS huyện ĐQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST. ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: số 41 ngày 28.02.25 Huỳnh Ngọc Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger