|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 352/2024/HSPT Ngày: 19/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: | Ông Nguyễn Nam Thành; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Bà Hoàng Thị Bích Hải. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 229/2024/TLPT-HS ngày 23/02/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn B, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HSST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện L, Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 15/8/2023 đến ngày 03/11/2023; hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Duy T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 15/8/2023, tại thôn Đ, xã T, huyện C, Hà Nội, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện C, phối hợp với Công an thành phố H (PC04-Đ3 và PA06), Công an xã T bắt quả tang Nguyễn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo ngực Beng 01 túi nilon kích thước (1x2) cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại Bản kết luận giám định số 5573/KL-KTHS ngày 22/8/2023, Phòng K - Công an thành phố H kết luận là ma túy (hê rô in), khối lượng 0,210 gam. B khai mua số ma túy trên của Nguyễn Duy T1, sinh năm 1968, trú tại: Thôn M, xã T, huyện M, Hà Nội mục đích để sử dụng; ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ của B 01 điện thoại Oppo có số thuê bao 0982.862.063. Kết quả xét nghiệm Nguyễn Văn B dương tính với ma túy.
Trên cơ sở lời khai của B, cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy T1. Quá trình khám xét, T1 giao nộp số ma túy có khối lượng 153,250 gam hê rô in (Bản kết luận giám định số 5573/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K - Công an thành phố H).
Tại cơ quan điều tra, B và T1 khai nhận hành vi phạm tội như trên.
- Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/08/2023 đến ngày 03/11/2023.
Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy T1, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn B có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn B giữ nguyên đơn kháng cáo và trình bày: Ngày 15/8/2023, bị cáo có mua 01 tép hê rô in giá 200.000 đồng của Nguyễn Duy T1 để mang về sử dụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng thưởng nhiều huân huy chương. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt để sớm trở về với gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích, nội dung và các tình tiết của vụ án có quan điểm:
+ Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B là trong hạn và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn B như bản án sơ thẩm đã xét xử và xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khi bị bắt quả tang; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều giấy khen, huân chương chiến sỹ vẻ vang; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo là thiếu sót.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và trên cơ sở áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 18 tháng tù là có phần nghiêm khắc, do vậy có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn B phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Duy T1, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/8/2023, Nguyễn Văn B mua của Nguyễn Duy T1 0,210 gam hê rô in để sử dụng; khi về đến thôn Đ, xã T, huyện C, Hà Nội thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn tàng trữ trái phép 0,210 gam hê rô in để sử dụng. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo; sau khi bị bắt đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án. Bị cáo có bố đẻ là thương binh tham gia kháng chiến, có nhiều thành tích và được tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng, Huân chương chiến sỹ vẻ vang; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo là thiếu sót, Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo. Do đó, có cơ sở xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo cũng là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt tù cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/08/2023 đến ngày 03/11/2023.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Nam Thành |
Bản án số 352/2024/HSPT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 352/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
