|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 13 – 12 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thanh Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Danh Tuyên
Bà Hoàng Thị Viễn
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hải Thao HaiảiH – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Văn K; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 12/8/1988 tại xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn H (đã chết) và bà Nông Thị N, sinh năm 1955; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: không có.
Nhân thân:
- - Năm 2021 bị Công an xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi trộm cắp tài sản tại Quyết định số: 08/QĐ-XPHC ngày 03/9/2021.
- - Năm 2022, bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số: 02/QĐ-XPTT ngày 20/10/2022.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024, tạm giam từ ngày 29/8/2024 đến nay tại nhà Tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
2. Nông Văn V; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 03/10/1987 tại xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Quang V1 (đã chết) và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1958; Vợ: Tô Thị N1, sinh năm 1990; Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân:
- - Năm 2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Bản án số: 79/2007/HSST ngày 27/11/2007;
- - Năm 2008 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số: 85/QĐ-XPHC ngày 21/10/2008.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024, tạm giam từ ngày 29/8/2024 đến nay tại nhà Tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1989; Địa chỉ: xóm L, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 20 tháng 8 năm 2024, Đội Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm C, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Hoàng Văn K và Nông Văn V đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 11H1-274.90 có biểu hiện nghi vấn, qua kiểm tra phát hiện dưới gầm xe của hai đối tượng có 01 gói giấy bạc được gói bằng vỏ bao thuốc lá, màu vàng, bên trong có các cục vụn chất bột màu trắng, V và K khai nhận là H1. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và tạm giữ tài sản theo quy định.
Ngày 20/8/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện H niêm phong xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu gửi giám định. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của các bị cáo có khối lượng 0,16 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 491/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Các bị cáo nhất trí với kết quả cân khối lượng ma túy và kết luận giám định của cơ quan chức năng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận bản thân đều là người sử dụng ma túy lâu năm. Khoảng 11 giờ trưa ngày 20/8/2024 sau khi K và V đi uống methadone tại Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Cao Bằng xong, K rủ V ra thành phố C để tìm mua Heroine về sử dụng, V đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô mượn của Hoàng Văn D chở V ra thành phố C, trên đường đi V nói không mang theo tiền, K bảo sẽ trả tiền cho V trước, sau khi về nhà V sẽ trả lại tiền cho K. V đồng ý và hai bên thống nhất K cho Vũ mượn 100.000 đồng để mua H1 dùng chung với K. Khoảng 12 giờ cùng ngày K và V đến khu vực K thuộc phường Đ, thành phố C mua Heroine với một người đàn ông không rõ lai lịch đang đứng cạnh đường trông giống người nghiện, K đưa cho người đàn ông này 400.000 đồng mua được 02 gói Heroine, sau đó K chở V đến khu vực bờ sông thuộc phường Đ để sử dụng ma túy, K lấy 01 gói Heroine ra để V sử dụng, gói còn lại K tự sử dụng hết bằng hình thức tiêm chích.
V sau khi nhận gói Heroine từ K thì lấy ra một nửa số Heroine tương ứng với số tiền 100.000 đồng đã góp chung với K để sử dụng bằng hình thức tiêm chích. Phần còn lại V đưa cho K, K cầm số Heroine trong lòng bàn tay trái rồi ngồi sau xe V điều khiển chở K về đến khu vực xóm C, xã N thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn D trình bày anh D là em trai ruột của bị cáo Hoàng Văn K, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1-274.90 là tài sản riêng của anh D tự mua vào năm 2021, bị cáo K nói mượn xe để đi uống methadone nhưng lại sử dụng xe đi mua ma túy cùng bị cáo V anh D không biết, xin HĐXX trả lại chiếc xe để anh D có phương tiện đi lại hàng ngày.
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSHQ ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố các bị cáo Hoàng Văn K và Nông Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; xử phạt bị cáo Nông Văn V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX áp dụng điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy phong bì niêm là heroine, trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn D chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1-274.90 đã qua sử dụng.
Về án phí, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Văn K không có ý kiến gì. Bị cáo Nông Văn V mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bản thân và bị cáo K để các bị cáo được sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên Công an huyện H; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Căn cứ lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng vụ án, vật chứng vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập và đánh giá, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/8/2024 các bị cáo Hoàng Văn K, Nông Văn V đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khối lượng 0,16 gam, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố các bị cáo ra trước Tòa án là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Các bị cáo Hoàng Văn K, Nông Văn V đều có nhân thân xấu, nghiện ma túy. Bị cáo K đã bị Công an xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài; bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo V bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện trong vụ án là đồng phạm giản đơn, các bị cáo có sự liên kết, phối hợp với nhau và cùng chung ý chí, mục đích, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, được thực hiện với lỗi cố ý gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy trong vụ án bị cáo K là người khởi xướng, rủ rê bị cáo V đi mua ma túy, đồng thời là người bỏ tiền ra 400.000 đồng trước để mua ma túy, cho bị cáo Vũ mượn tiền 100.000 đồng để góp chung cùng mua ma túy để sử dụng. Do hành vi của bị cáo K đã thực hiện tích cực hơn bị cáo V, số tiền góp mua ma túy cao hơn bị cáo V nên cần áp dụng mức hình phạt của bị cáo K cao hơn hình phạt của bị cáo V. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều làm nghề động tự do, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Về 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi "Tang vật nghi Heroine thu giữ được của Hoàng Văn K và Nông Văn V", mặt sau phong bì có chữ ký của Hoàng Văn K, Nông Văn V cùng các thành phần tham gia niêm phong, được đóng 04 hình dấu đỏ giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Cao Bằng là chất ma túy, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - Về 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu xanh đen, có biển kiểm soát số: 11H1-247.90 đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3847MY129287, số máy: JA52E0286914. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô là tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân anh Hoàng Văn D, các bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy anh D không biết nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
[7] Về các vấn đề khác:
Về người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo, do trong quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên HĐXX không có đủ cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật khi có đủ căn cứ.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn K, Nông Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2024.
Xử phạt bị cáo Nông Văn V 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi "Tang vật nghi Heroine thu giữ được của Hoàng Văn K và Nông Văn V", mặt sau phong bì có chữ ký của Hoàng Văn K, Nông Văn V cùng các thành phần tham gia niêm phong, được đóng 04 hình dấu đỏ giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Cao Bằng.
- - Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn D 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh đen, có biển kiểm soát số: 11H1-247.90 đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3847MY129287, số máy: JA52E0286914, kèm theo chìa khóa xe.
(Xác nhận toàn bộ vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 05 ngày 07/11/2024).
3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Hoàng Văn K, Nông Văn V mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nông Thanh Lịch |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA |
|
Đàm Danh Tuyên Hoàng Thị Viễn |
Nông Thanh Lịch |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn K và đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy
