Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 24-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Rót Tha; ông Hồ Văn Dũng.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Lê Ngọc Trân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn K (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/8/1995, tại huyện T, tỉnh An Giang, nơi cư trú: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Đạo phật; con ông Trần Văn K1 và bà Võ Thị M; anh chị em có 04 người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án,

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, bị Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã nộp xong án phí.

Ngày 03 tháng 3 năm 2021, bị Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xử phạt 03 năm 03 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 07/8/2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 06 tháng 01 năm 2024 đến nay, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nô Thái V, sinh năm 1999; nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Tô Thế N và Chau Săng H (vắng mặt).

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Kim S, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 01 năm 2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện T phối hợp với Công an xã C, thực hiện công tác khám nghiệm hiện trường vụ tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của Trần Văn N1, ngụ ấp A, xã C, huyện T. Qua kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Võ Văn K có hành vi cất giấu trái phép chất nghi là ma túy đá.

Tang vật thu giữ gồm có: 01 bọc nilon trong suốt hàn kín có rãnh khóa màu trắng ngang miệng chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong (kí hiệu M); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu JET; 01 xe mô tô biển số 67B1-809.56, loại xe Dream, màu nho và số tiền 1.244.000đồng.

Nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị cáo K khai nhận như nội dung tóm tắt vụ án. Quá trình điều tra xác định ngày 05/01/2024 bị cáo mua ma túy của đối tượng tên P (chưa rõ họ, địa chỉ cụ thể) ở khu vực phường C, thị xã T với giá 1.400.000đồng, đem về sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong bao thuốc lá JET, để trong túi quần, bị cáo mượn xe mô tô biển kiểm soát 67B1-809.56 của V đi công việc ở xã L, huyện T. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06/01/2024, bị cáo đến nhà của N1, để tìm V trả xe thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại kết luận giám định số: 49/KL-KTHS ngày 13/01/2024, của Phòng K2 - Công an tỉnh A, kết luận: “Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 1,1105 gam”.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSTT.HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố Võ Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi chung Bộ luật Hình sự).

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Võ Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. (Bút lục số: 97 - 104).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa

2

đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 05 năm đến 06 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ sau khi giám định là ma túy Heroine, khối lượng 1,0484gam; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 bao thuốc lá JET. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S màu xanh, có gắn sim số 0349339556. Trả lại cho bị cáo số tiền 1.244.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mất dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Văn K đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, đồng cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06/01/2024 sau khi bị cáo mua ma túy của đối tượng tên P ở khu vực phường C, thị xã T, đem về sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo để trong bao thuốc lá cất trong túi quần và đến nhà của N1 để tìm V trả xe thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang bị cáo K có hành vi tàng trữ trái phép một lượng ma túy có khối lượng 1,1105gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Quy khối lượng ma túy được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nhưng do trước khi phạm tội bị cáo K đã bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2021/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 03 tháng tù, chấp hành xong ngày 07/8/2023. Tính đến lần phạm tội này chưa được xóa án

3

tích. Vì vậy, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã 02 lần bị kết án và đã trải qua quá trình đào tạo, giáo dục trong môi trường trại giam với thời gian dài, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng trở thành người công dân sống có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Đối với đối tượng có tên P (không rõ họ, địa chỉ cụ thể). Quá trình điều tra và tại phiên tòa Võ Văn K khai không biết rõ nhân thân của người này, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định không có giá trị để sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 bao thuốc lá JET

4

cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 1.244.000đ đã thu giữ của bị cáo K nhưng không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên do bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ là nộp tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Đối với chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo K, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với P mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67B1-809.56, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sỡ hữu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Văn K 06 (Sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06 tháng 01 năm 2024).

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 49/KL-KTHS ngày 13/01/2024, kí hiệu M), có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H1, Chau P1. Bên trong có mẫu còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 1,0484g; 01 mũ bảo hiểm màu xám; 01 bao thuốc lá hiệu Jet.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, màu xanh, kiểu máy: SM- A047F/DS, số seri: R58T91G1L5D, số IMEI 1: 3507532003056205, số IMEI 2: 352044983056203 có gắn sim số 0349339556.

Trả lại cho bị cáo Võ Văn K số tiền 1.244.000đ đã thu giữ, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5

Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND huyện Tri Tôn;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ;
  • - Thi hành án DS huyện Tri Tôn;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng hồ sơ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Thị Thúy Liễu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger