|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HS - ST Ngày 15 - 5 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Tùng.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt và bà Mùa Thị Mỷ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXX ST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Gia L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1997, tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: không; con ông Trần Văn C và bà Trịnh Thị T; bị cáo có vợ là Lò Thị Diệp H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2019 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Bà Đặng Thị H1; sinh năm 1975. Địa chỉ: Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị T; sinh năm 1978. Địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 26/12/2023, bị cáo Trần Gia L điện thoại của bị cáo bị hỏng, bị cáo hỏi mượn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max của bà Trịnh Thị T là mẹ đẻ của bị cáo để vào mạng xã hội Facebook, bà T đồng ý. Bị cáo L vào mục tin nhắn trên ứng dụng Messenger và Z thấy bà T thường xuyên
nhắn tin và chuyển tiền với tài khoản hiển thị trên Zalo tên “C H” là tài khoản Zalo của bà Đặng Thị H1. Bị cáo L đã giả làm bà T nhắn tin mượn tiền và chiếm đoạt của bà H1 hai lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Hồi 01 giờ 34 phút ngày 27/12/2023, bị cáo L sử dụng tài khoản Zalo của bà T có tên hiển thị là “Ngọc D” gọi thoại đến tài khoản Zalo “C H” 04 lần nhưng không có kết nối mạng. Đến 01 giờ 50 phút củng ngày, L nhắn tin đến tài khoản Zalo “C H” của bà H1 với nội dung: “Ngại quá nửa đêm gọi chị, sáng mai chị chuyển cho em 20tr nhé, em đưa cháu đi Hà Nội, chiều thúy nhà em rút tiền thì em chuyển cho chị”. Nghĩ là bà T nhắn tin vay tiền nên bà H1 đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng N (A) (số G) của bà H1 đến số tài khoản Ngân hàng A (số G) của bà T, sau đó chụp ảnh màn hình điện thoại thông báo đến tài khoản Zalo của bà T đã chuyển tiền thành công. Thấy vậy, L đã truy cập tài khoản Ngân hàng A của bà T trên điện thoại đang mượn bà T rồi chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến ví điện tử Momo của bà T. Đến 12 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo đi bộ đến gặp anh Đào Anh Tuấn, đang bán hàng tại chợ Y và đặt vấn đề nhờ chuyển tiền từ tài khoản của bị cáo đến tài khoản ngân hàng của anh T1 để bị cáo lấy tiền mặt, anh T1 đồng ý. Sau đó bị cáo L đã chuyển tiền từ ví điện tử Momo của bà T đến Ngân hàng TMCP Đ (B) (số tài khoản: 8860218999) của anh T1 02 lần với tổng số tiền chuyển là 5.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền từ anh T1, bị cáo L bảo sẽ nhờ người chuyển tiền tiếp vào tài khoản của anh T1 năm mươi triệu đồng rồi cho bị cáo lấy tiền mặt, anh T1 đồng ý.
Lần thứ hai: Vào hồi 14 giờ 52 phút ngày 27/12/2023, bị cáo L sử dụng điện thoại của bà T tiếp tục nhắn tin cho bà H1 với nội dung: “Chị chuyển vào tk chồng T2 cho em 50tr nhé, là 70tr nhé chị”, “8860218999”, “B”, “đào anh tuấn”. Vẫn nghĩ là bà T nhắn tin vay tiền nên bà H1 đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng A của bà H1 đến tài khoản Ngân hàng B mang tên Đào Anh T3 vào hồi 20 giờ 16 phút cùng ngày, đồng thời chụp ảnh màn hình việc đã chuyển thành công số tiền 50.000.000 đồng đến tài khoản Zalo của bà T và nhắn tin với nội dung: “Đây Thuận nha”, “Tổng 70 triệu Thuận nha”. Bị cáo L nhắn tin lại với nội dung: “em nhận rồi chị nhé”. Sau đó bị cáo đi bộ đến nhà anh T3 để lấy tiền mặt từ anh T3 số tiền 50.000.000 đồng mà bà H1 đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của anh T3.
Đến sáng ngày 28/12/2023 bị cáo L đi bộ đến nhà anh T3 tiếp tục chuyển tiền 02 lần từ ví điện tử Momo của bà T đến tài khoản Ngân hàng B của anh T3 để lấy tiền mặt với tổng số tiền là 5.000.000 đồng. Bị cáo L mang số tiền 60.000.000 đồng đi tiêu xài cá nhân hết 59.000.000 đồng, còn lại trong người 1000.000 đồng. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, L không nói cho bà T biết.
Đến khoảng 10 giờ 20 phút 28/12/2023, bà H1 đến nhà bà T để hỏi về số tiền 70.000.000 đồng mà ngày 27/12/2023 bà H1 đã chuyển cho bà T vay. Tuy nhiên do sáng ngày 27/12/2023 bà T gọi điện thoại vào số thuê bao của mình thì không liên lạc được nghĩ rằng bị cáo L đã làm mất điện thoại nên bà T bảo với bà H1 điện thoại bị mất, không biết gì về việc nhắn tin vay tiền của bà H1. Nghi ngờ bị kẻ gian lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà H1 đã trình báo sự việc đến Công an huyện Y.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y triệu tập bị cáo Trần Gia L đến làm việc. Quá trình làm việc bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà H1, đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, vỏ màu vàng đồng, điện thoại cũ đã qua sử dụng là điện thoại bị cáo L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và số tiền 1.000.000 đồng. Cùng ngày, bà T giao nộp cho Cơ quan điều tra 9.950.000 đồng, là tiền bị cáo Trần Gia L thực hiện hành vi lừa đảo còn lại trong tài khoản của bà T. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong và trưng cầu giám định đối với số tiền trên.
Tại kết luận giám định số: 314/KL- KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S đã kết luận: Số tiền Việt Nam đồng gửi giám định là tiền thật.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra thông tin dữ liệu trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, vỏ màu vàng đồng thu giữ của bị cáo Trần Gia L và điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, vỏ màu vàng đồng của bà Đặng Thị H1. Kết quả kiểm tra ứng dụng mạng xã hội Zalo trên 02 điện thoại có nội dung trùng khớp với lời khai của bị cáo L.
Đối với số tiền 9.950.000 đồng do bà T giao nộp là tiền Trần Gia L chiếm đoạt của bà H1, để trong tài khoản ngân hàng của bà T. Ngày 26 tháng 01 năm 2024, Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho bà H1 quản lý, sử dụng.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, bị cáo Trần Gia L giao nộp là của bà T cho bị cáo mượn để sử dụng. Việc bị cáo sử dụng chiếc điện thoại trên làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội bà T hoàn toàn không biết. Ngày 16 tháng 01 năm 2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho bà T quản lý, sử dụng.
Về bồi thường trách nhiệm dân sự: Ngày 27/01/2024 đại diện gia đình bị cáo Trần Gia L đã thỏa thuận bồi thường cho chị H1 số tiền 60.050.000 đồng. Bà H1 đã nhận đủ tiền, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng còn lại: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng số tiền 1.000.000 đồng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
Tại bản Cáo trạng số: 09/2024/CT- VKSYC ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Gia L về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa công khai, lời khai của bị cáo Trần Gia L phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Gia L mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1 điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Gia L 01 phong bì niêm phong, bên trong có số tiền 1.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận các bên đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường số tiền bị cáo chiếm đoạt, bị hại đã nhận đủ, bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Trần Gia L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo Trần Gia L trình bày: Bị cáo nhất trí như lời luận tội của Viện kiểm sát, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Ý kiến của bị hại bà Đặng Thị H1 trình bày tại cơ quan điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Ngày 27/12/2023 bà bị bị cáo chiếm đoạt số tiền là 70.000.000 đồng. Bà đã được cơ quan điều tra trả lại số tiền 9.950.000 đồng và Gia đình bị cáo đã bồi thường cho số tiền 60.050.000 đồng. Tổng cộng là 70.000.000 đồng. Hiện bà H1 đã nhận số tiền trên và không yêu cầu đề nghị bị cáo bồi thường khoản nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị T trình bày: Bị cáo Trần Gia L là con đẻ của bà, khi điện thoại của bị cáo hỏng, bà đã cho bị cáo mượn để sử dụng, bà hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng điện thoại của bà để phạm tội. Bà đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc điện thoại và thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã nhận số tiền trên, tại phiên tòa hôm nay bà T không có yêu cầu đề nghị gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bị cáo, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa bị hại Đặng Thị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử. Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự.
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Gia L, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 26 tháng 12 năm 2023, bị cáo Trần Gia L mượn máy điện thoại của mẹ đẻ là bà Trịnh Thị T để sử dụng. Quá trình sử dụng bị cáo phát hiện trên ứng dụng
Zalo của bà T có tin nhắn và chuyển tiền với tài khoản tên “C1” của bà Đặng Thị H1. Do cần tiền để tiêu sài cá nhân, nên bị cáo đã nảy sinh ý định sử dụng điện thoại di động và tài khoản ứng dụng Zalo của bà Trịnh Thị T, giả mạo là bà T hỏi vay tiền của bà Đặng Thị H1. Ngày 27/12/2024 bị cáo đã dùng điện thoại và tài khoản của bà T giả danh bà T nhắn tin vay tiền của bà H1. Do có mối quan hệ quen biết từ trước với bà T, khiến bà Đặng Thị H1 tin tưởng là bà T vay tiền, nên đã cho vay tiền bằng hình thức chuyển khoản, lần thứ nhất với số tiền là 20.000.000 đồng và lần thứ hai với số tiền là 50.000.000 đồng. Tổng cộng hai lần là 70.000.000 đồng. Trong số tiền này bị cáo đã chuyển nhờ vào tài khoản của anh Đào Anh Tuấn, bán hàng tại chợ Y số tiền là 60.000.000 đồng, để bị cáo lấy tiền mặt. Do quen biết, nên anh T3 đã đồng ý để bị cáo chuyển tổng số tiền là 60.000.000 đồng vào tài khoản của anh T3 và đưa cho bị cáo 60.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền mặt này bị cáo đã sử dụng hết 59.000.000 đồng vào việc chơi game và chi tiêu cá nhân thì bị phát hiện bắt giữ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối mạo danh người khác, thông qua ứng dụng công nghệ thông tin tạo sự tin tưởng của bị hại, để bị hại giao tiền sau đó chiếm đoạt sử dụng cá nhân. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, song cố ý thực hiện. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Trần Gia L đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát là có căn cứ. Việc xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
-
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Với tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 70.000.000 đồng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, phải chịu mức hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
-
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Gia L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hai lần. Giá trị số tiền chiếm đoạt mỗi lần đều cấu thành tội phạm độc lập, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo Trần Gia L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tác động để gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy cần vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Nhân thân bị cáo năm 2019 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội thuộc tội nghiêm trọng, cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.
-
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Trần Gia L không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định, sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được cơ quan điều tra trả lại số tiền 9.950.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 60.050.000 đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền bị chiếm đoạt là 70.000.000 đồng và không yêu cầu đề nghị gì thêm cần được ghi nhận.
-
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong, bên trong có số tiền 1.000.000 đồng là số tiền bị cáo giao nộp cho cơ quan điều tra. Xét thấy bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, nên số tiền này cần áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
-
Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.
-
Về các vấn đề khác: Đối với anh Đào Anh Tuấn là người đã cho bị cáo chuyển tiền đến tài khoản của mình và lấy tiền mặt cho bị cáo với tổng số tiền 60.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định, khi chuyển tiền cho anh T3, bị cáo L không nói cho anh T3 biết số tiền trên là do bị cáo L lừa đảo mà có, anh T3 cũng không được hưởng lợi gì từ việc giao dịch với bị cáo. Do đó cơ quan điều tra không đề cập đến việc xử lý là có căn cứ.
Đối với bà Trịnh Thị T là người cho bị cáo Trần Gia L mượn điện thoại để sử dụng. Quá trình điều tra xác định, bà T không biết việc bị cáo L sử dụng điện thoại trên để giả danh bà thực hiện hành vi phạm tội, nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trịnh Thị T chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max. Tại phiên tòa bà Trịnh Thị T không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
-
Về án phí: Bị cáo Trần Gia L không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Gia L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Trần Gia L 24 tháng (Hai mươi tư tháng) tù. Thời gian thụ hình, tính từ ngày 29/12/2023 là ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Ghi nhận bị hại bà Đặng Thị H1 đã được cơ quan điều tra trả lại số tiền 9.950.000 đồng do gia đình bị cáo giao nộp và được gia đình bị cáo bồi thường 60.050.000 đồng. Tổng cộng là 70.000.000 đồng. Bị hại bà Đặng Thị H1 đã nhận đủ số tiền bị bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 phong bì niêm phong, bên trong có số tiền 1.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu ngày 16 tháng 4 năm 2024).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Gia L chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án theo thủ tục hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Tùng |
Bản án số 32/2024/HS - ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 32/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Gia L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
