|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 29/2025/HSST Ngày 26/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành, bà Vũ Thị Lan Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập – Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Định - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với:
Bị cáo Đỗ Như Hoàng A, sinh năm 2005.
HKTT: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Đỗ Như L, sinh năm 1978. Họ và tên mẹ: Ngô Thị L1, sinh năm 1979. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ con: Chưa có.
Tiền án: Tại Bản án số 54/2023/HSST ngày 19/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt Đỗ Như Hoàng A 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 22/5/2024.
Tiền sự: Ngày 05/5/2023, UBND huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1656/QĐ-XPHC đối với Đỗ Như Hoành A1 về hành vi “Lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình...” với số tiền 8.500.000 đồng. Bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.
Nhân thân: Ngày 12/11/2022, UBND xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC đối với Đỗ Như Hoàng A về hành vi “Trộm cắp tài sản” số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 30/8/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1968. (đề nghị vắng mặt)
HKTT: Khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1965. (đề nghị vắng mặt)
HKTT: Khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đỗ Như L, sinh năm 1978. (có mặt)
HKTT: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1992. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố L, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1981. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Kiều Văn T2, sinh năm 1984. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Như Hoàng A, sinh năm 2005 có HKTT: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương là đối tượng nghiện game, sống lang thang tại phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh từ khoảng đầu tháng 07/2024 cho đến ngày 06/11/2024. Để có tiền chơi game và tiền tiêu xài cá nhân, Hoàng A đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp xe máy, cụ thể:
Sáng ngày 03/11/2024, Hoàng A chơi game tại quán I ở phố H, đến khoảng 13 giờ cùng ngày Hoàng A đi bộ một mình đến khu vực khu phố L, phường H, thị xã T với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1968 nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 75G1-017.95 đang dựng ở sân nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa. Hoàng A đi lại quanh đó nhiều lần thấy không có ai trông coi quản lý nên đã đi bộ vào cổng nhà bà Lê R mở chốt cửa, mở cổng, dắt xe mô tô ra ngoài đường. Sau khi lấy được xe Hoàng A đã điều khiển xe đi theo QL38 để tìm nơi tiêu thụ. Hoàng A đi đến cửa hàng sửa chữa xe mô tô của anh Kiều Văn T2, sinh năm 1984 tại phố C thuộc khu phố N, phường T, thị xã T để bán cho anh T2. Do xe không có giấy tờ nên anh T2 không mua thì Hoàng A nói “Em viết cam kết cho anh xe này không phải xe trộm cắp". Do vậy anh T2 đã đồng ý mua chiếc xe trên với giá là 2.000.000 đồng. Toàn bộ tiền bán được xe trộm cắp thì Hoàng A đã tiêu xài cá nhân hết.
Cũng với thủ đoạn như trên, khoảng 09 giờ 45 phút ngày 04/11/2024, Hoàng A lại vào nhà ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1965 tại Khu phố L, phường H, thị xã T trộm cắp được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 99H5 - 8416 đang dựng ở sân nhà rồi đem đến cửa hàng xe mô tô của anh Lê Văn T1, sinh năm 1981 ở Khu phố H, phường N, thị xã T bán được 1.000.000 đồng. Khi bán Hoàng A cũng cam kết không phải xe trộm cắp nên anh T1 đồng ý mua. Số tiền bán xe Hoàng A cũng tiêu sài hết.
Ngày 06/11/2024, ông Nguyễn Ngọc V, bà Nguyễn Thị L2 có đơn trình báo đến Công an thị xã T về việc bị mất cắp tài sản. Ngày 06/11/2024, Hoàng A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T đầu thú khai nhận toàn bộ hành trộm cắp tài sản ngày 03/11/2024 và 04/11/2024 và tự giác giao nộp 01 (một) áo khoác màu đen có mũ liền áo, có khóa bằng kim loại màu trắng sáng, cỡ 2XL là trang phục của Hoàng A mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Ngày 06/11/2024 anh T2 đã tự nguyện giao nộp xe mô tô Wave màu đen, có số khung: RLHJC4313BY149997, có số máy: JC43E-1708361 mang BKS 75G1 - 017.95. Anh T1 đã tự nguyện giao nộp xe mô tô Wave màu đỏ, có số khung: RLHHC090045Y547617, có số máy: HC09E-5132992 mang BKS 99H5 - 8416 mua của Hoàng A.
Tại kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐG ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T kết luận kết luận: Chiếc xe mô tô Wave màu đen mang BKS 75G1 - 017.95 có giá là 4.000.000 đồng. Chiếc xe mô tô Wave màu đỏ mang BKS 99H5 - 8416 có giá là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá có giá trị 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Đỗ Như Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng A khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận do không có tiền tiêu sài cá nhân nên khi phát hiện gia đình nhà bà L2, gia đình nhà ông V có xe mô tô để sơ hở không có người trông nom nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã đưa ra chứng cứ để buộc tội Đỗ Như Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản” với giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật hình sự. Xử phạt Đỗ Như Hoàng A từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Do bị cáo không có công việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà L2, ông V đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Đối với người có quyền lợi liên quan là anh T2, anh T1 cũng đã nhận lại số tiền bỏ ra mua xe từ bố đẻ bị cáo là ông Đỗ Như L. Anh T2, anh T1 cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Ông L, chị T, bà D cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Bị cáo Hoàng A nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Trong phần nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và miễn cho bị cáo hình phạt bổ sung.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về việc thực hiện trình tự tố tụng đối với vụ án:
Quá trình thực hiện thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Như Hoàng A tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản, hình ảnh Video lưu giữ tại hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:
Khoảng 13 giờ ngày 03/11/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị L2, bị cáo Hoàng A đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Lê 0 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 75G1-017.95 trị giá 4.000.000 đồng. Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 04/11/2024, tại nhà ông Nguyễn Ngọc V, bị cáo Hoàng A lại tiếp tục có hành vi lén lút trộm cắp của ông V 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ BKS: 99H5-8416 trị giá 2.000.000 đồng. Tỏng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 6.000.000 đồng.
Bị cáo Hoàng A đã trên 18 tuổi và có đầy đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi của mình. Tổng giá trị tài sản do bị cáo chiếm đoạt là 6.000.000 đồng. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Hoàng A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về nguyên nhân, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội:
Bị cáo do lười lao động, mải chơi Game, coi thường sức lao động của người khác, muốn có tiền tài sản mà không phải lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội để có tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân ở địa phương. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2022 đã bị UBND xã A xử phạt hành chính. Tại Bản án số 54/2023/HSST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã kết án và xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự. Bị cáo mới chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 22/5/2024 nên chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Bị cáo hai lần thực hiện hành vi trộm cắp với trị giá tài sản mỗi lần đều từ 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên: quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Ngoài ra bị cáo còn có 01 Tiền sự, ngày 05/5/2023 bị UBND huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1656/QĐ-XPHC đối với Đỗ Như Hoành A1 về hành vi “Lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình...” số tiền 8.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Phía bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo tuy còn trẻ nhưng đã không chịu rèn luyện bản thân, ham chơi, mặc dù đã bị kết án, đã bị xử phạt hành chính nhưng vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần có bản án thích đáng, phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính cất mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
[5]. Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với người phạm tội. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại là bà L2, ông V không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
[7]. Về vật chứng: Do bị cáo tự nguyện không nhận lại nên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác mà bị cáo Hoàng A giao nộp (Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).
[8]. Liên quan đến vụ án có: Đối với anh Kiều Văn T2 và anh Lê Văn T1 khi mua xe mô tô từ bị cáo đều không biết chiếc xe đó là do Hoàng A trộm cắp mà có. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp. Phía ông L, chị T và chị Thùy D cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đỗ Như Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Như Hoàng A 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù
tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 6/11/2024.
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 26/02/2025 để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác màu đen có mũ liền áo, có khóa bằng kim loại màu trắng, cỡ 2XL (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)
- Về án phí: Bị cáo Đỗ Như Hoàng A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ông Đỗ Như L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Sỹ Cây |
Bản án số 29/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 29/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đõ Như Hoàng A phạm tội trộm cắp tài sản.
