Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 27/2025/HSST

Ngày: 21/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Thọ

Bà Nguyễn Thị Phi Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia

phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Lê Đình Đ, sinh năm 1992 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 9/12; dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch:Việt Nam; con ông Lê Xuân B, sinh năm 1964 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1968; Vợ, con chưa có; A, chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 đến ngày 27/02/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

Họ và tên: Đinh Chỉ T1, sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm H, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 10/12; dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch:Việt Nam; con ông Đinh Chỉ T2 ( đã chết) và bà Lê Thị T3, sinh năm 1957; Vợ Lê Thị H, sinh năm 1987; Con có 05 người, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Anh, chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 03;Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ

ngày 15/12/2024 đến ngày 27/02/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

Họ và tên: Nguyễn Cảnh X, sinh năm 1979 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 8/12; dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguyễn Cảnh B1, ( đã chết) và bà Trần Thị M ( đã chết); Vợ Đinh Thị S, sinh năm 1988; Con có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ 07; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Họ và tên: Bùi Văn T4, sinh năm 1985 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 12/12; dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Bùi Văn K, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; Vợ Võ Thị Lan A, sinh năm 1995; Con có 04 người, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 01; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Họ và tên: Bùi Văn Á, sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá 8/12; dân tộc:Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Bùi Văn H1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1953; Vợ Lê Thị N1, sinh năm 1986; Con có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 03; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đình Đ làm nghề lái xe tải tuyến huyện N, tỉnh Nghệ An đi thành phố V, Lào (qua cửa khẩu N2). Vào khoảng tháng 6/2024, Đ dừng xe nghỉ ăn cơm tại một quán ăn ven đường thuộc huyện K, tỉnh Nghệ An thì gặp và mua của người đàn ông (Đ không quen biết) cũng làm nghề lái xe ô tô tải 53 (năm mươi ba) khối pháo nổ loại 36 quả; 05 (năm) khối pháo 49 quả; 3 (ba) hộp pháo dây và 33 (ba mươi ba) bịch pháo với giá 28.350.000 đồng (Hai mươi tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Đ nhận từ người đàn ông 03 (ba) thùng cattong hình chữ nhật chứa số pháo trên rồi đưa về tại xã M (xã T cũ). Đ gọi điện thoại cho Đinh Chỉ T1 nói “Anh cho gửi ít hàng chơi tết trong nhà anh với” T1 hiểu ý Định muốn gửi pháo trong nhà của anh T1 để cất giấu và đồng ý và nói “Em cứ đưa vô trong nhà để trên tầng 2 đó rồi đóng cửa lại”. Đ đi đến nhà T1 nhưng không thấy ai ở nhà nên Đ đã đem toàn bộ số pháo nổ này lên phòng ở tầng 2 nhà T1 rồi đóng cửa lại cất giấu mục đích để bán kiếm lời.

Trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2024, Lê Đình Đ đã nhiều lần bán pháo cho Nguyễn Cảnh X. Nguyễn Cảnh X là người chủ động gọi điện liên hệ

mua pháo nổ loại 36 quả của Đ. Đ bán cho Xá giá của mỗi khối pháo nổ loại 36 quả là 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Các lần Đ đều hẹn Xá đến khu vực ngoài đường gần nhà thờ giáo xứ P1 thuộc xóm H, xã M, huyện T để giao dịch pháo vào thời gian buổi tối (từ 19 giờ đến 20 giờ). Những lúc Đ ở nhà thì Đ sẽ trực tiếp đi giao pháo cho X, còn một số lần do Đ đi lái xe, không có mặt ở nhà nên Đ sẽ gọi điện cho T1 để nhờ T1 mang pháo ra cho X. Quá trình giao dịch, X trả tiền mua pháo cho Đ bằng hình thức chuyển tiền vào số tài khoản 3609205337810 mang tên “LE DINH DINH” tại ngân hàng A1 hoặc đưa tiền mặt khi giao pháo. Cụ thể:

Vào ngày 12/12/2024, Nguyễn Cảnh X gọi điện hỏi mua của Đ 05 (Năm) khối pháo hoa nổ loại 36 quả, X đồng ý và thống nhất sẽ chuyển tiền bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản ngân hàng số 3609205337810 mang tên “LE DINH DINH” tại ngân hàng A1 của Đ. Sau đó, vì Đ không ở nhà nên Đ đã gọi điện nhờ Đinh Chỉ T1 lấy pháo để đi giao hộ cho Đ. T1 đồng ý và lên gian phòng tại tầng 2 nhà T1 (khu vực Đ nhờ T1 cất giấu pháo) lấy 04 khối pháo bỏ vào túi bóng đen rồi đi đến địa điểm Đ đã hẹn Xá từ trước để giao pháo hộ. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 12/12/2024, X đi đến gần khu vực nhà thờ Giáo xứ P1 thì thấy T1 đang đứng đợi ở đó. Xá lại gần thì T1 nói với X đi thêm một đoạn cách khoảng 10 mét để lấy túi pháo đặt bên đường. Xá đi lại thì thấy có 01 (một) túi ni lông màu đen, X biết trong túi ni lông có chứa pháo nên không mở ra kiểm tra mà lấy mang về nhà. Khi về đến nhà, X mở ra kiểm tra thì thấy chỉ có 04 (Bốn) khối pháo hoa nổ loại 36 quả nên X gọi điện lại để hỏi tại sao chỉ có 04 khối pháo, thì Đ nói chỉ còn 04 (Bốn) khối pháo để bán cho X và hứa khi nào có pháo sẽ giao cho X thêm 01 (Một) khối nữa.

Ngoài ra, Nguyễn Cảnh X còn mua pháo nổ của Lê Đình Đ để bán lại cho Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 và Nguyễn Cảnh T6 để kiếm lời, cụ thể như sau:

  • Vào khoảng tháng 10/2024 (không nhớ cụ thể thời gian), Bùi Văn Á nói chuyện với Xá qua ứng dụng Messenger hỏi mua của X 02 (hai) khối pháo nổ loại 36 quả thì X đồng ý bán với giá 850.000 đồng/khối pháo và thống nhất sẽ giao dịch pháo tại nhà Á. Sau đó, X đã liên hệ đặt mua 02 (hai) khối pháo nổ của Đ với giá 750.000 đồng/ khối pháo. X đã chuyển cho Đ 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) hẹn Đ giao pháo tại khu vực nhà thờ P1, xã M, huyện T vào hồi 19 giờ tối cùng ngày. Sau đó, Đ không ở nhà nên Đ đã gọi điện nhờ Đinh Chỉ T1 lấy pháo để đi giao hộ cho Đ. T1 đồng ý và lên gian phòng tại tầng 2 nhà T1 (khu vực Đ nhờ T1 cất giấu pháo) lấy 02 khối pháo bỏ vào túi bóng đen đi giao hộ Đ tại địa điểm đã Đ đã hẹn X từ trước. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, X đi đến khu vực nhà thờ P1 thì thấy Đinh Chỉ T1 đang đứng đợi ở đó. Khi gặp, T1 nói với X đi lại lấy túi ni lông chứa pháo đang để bên đường. Xá đi lại lấy 01 (một) túi ni lông màu đen đựng pháo mà T1 để bên đường rồi mang về đưa đến nhà Á thì Á trả cho X 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền mặt. Sau khi mua được pháo, Á đã sử dụng 01 (một) khối pháo nổ đem đi sử dụng, còn 01 (một) khối còn lại thì Á cất giấu tại nhà.
  • Đến ngày 17/11/2024, Á tiếp tục hỏi mua của X 05 (năm) khối pháo nổ loại 36 quả thì X đồng ý bán với giá 1.000.000 đồng/khối pháo. Á đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) vào số tài khoản 3615205741056 tại ngân hàng A1 của X. Sau khi nhận đủ tiền, X đã đặt mua của Đ 05 (Năm) khối pháo hoa nổ loại 36 quả với giá 750.000 đồng/khối. Xá đã chuyển tiền cho Đ, hẹn Đ giao pháo tại khu vực nhà thờ P1,

xã M, huyện T vào hồi 19 giờ tối cùng ngày. Sau đó, X rủ Á đi cùng X đi lấy 05 (năm) khối pháo nổ loại 36 quả mà Á đặt mua. Xá và Á đến khu vực nhà thờ P1 thì thấy Đ đang đứng đợi ở đó. Đ nói X và Á đi lại một đoạn khoảng 10 mét lấy pháo, X và Á đi lên một đoạn thì thấy có 01 (một) túi ni lông màu đen được đặt bên đường nên Á cầm lấy rồi X và Á đi về nhà. Ánh mang 05 (năm) khối pháo này đem về nhà cất giấu trong nhà cùng 01 (một) khối pháo còn lại mua lần trước với mục đích để sử dụng. Quá trình đầu thú Bùi Văn Á đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 06 (sáu) khối pháo hoa nổ loại 36 quả có tổng khối lượng là 9,501kg (Chín phẩy năm trăm linh một kilogam).

  • Vào khoảng đầu tháng 11/2024 (không nhớ rõ cụ thể thời gian), Bùi Văn T4 nhắn tin qua ứng dụng Zalo hỏi mua pháo, lúc này X trả lời giá pháo hoa nổ loại 36 là 1.000.000 đồng, nhưng T4 chê bán đắt, không mua. Đến ngày 03/12/2024, T4 nhắn tin qua zalo với X để mua 04 (bốn) khối pháo hoa loại 36 quả và thống nhất giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/1 khối. Sau khi thống nhất giá cả, T4 đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của X với số tiền 4.350.000 đồng (Bốn triệu ba trăm năm mươi đồng) trong đó 4.000.000 đồng là tiền T4 mua pháo còn 350.000 đồng là T4 trả tiền nợ cho X, khi Thuyên chuyển tiền cho X thì X liên hệ với Đ để đặt mua 04 (bốn) khối pháo nổ loại 36 quả với giá 750.000 đồng /khối. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, X đi đến khu vực nhà thờ P1 thì thấy Đ đang đứng đợi ở đó và Đ nói X đi lại lấy túi ni lông chứa pháo đang để bên đường. Xá đi lại vị trí mà Đ chỉ, lấy 01 (một) túi ni lông màu đen đựng pháo mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 04/12/2024, T4 đến nhà X lấy pháo thì X bỏ 04 (bốn) khối pháo vào trong bì và đưa qua bờ rào cho T4. Tiếp đó, ngày 10/12/2024, T4 tiếp tục liên hệ với X đặt mua 05 (năm) khối pháo nổ loại 36 quả với giá 1.000.000 đồng/ khối. Thuyên chuyển cho X 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), thì X liên hệ với Đ để mua pháo. Khoảng 19 giờ cùng ngày, X đi đến khu vực nhà thờ P1 thuộc xã M, huyện T thì gặp Đ. Đ nói với X đã bỏ pháo vào trong một thùng cát tông và đặt ở bên đường, X di chuyển đến vị trí Đ đặt pháo để lấy pháo đưa về nhà cất giấu. Đến ngày 12/12/2024, T4 đến nhà X để lấy số pháo đã đặt mua từ trước rồi đem về nhà cất giấu với mục đích để sử dụng. Quá trình khám xét tại nhà ở của Bùi Văn T4, cơ quan điều tra thu giữ 09 khối pháo hoa nổ loại 36 quả có tổng khối lượng 10,355 kg (Mười phẩy ba trăm năm mươi lăm kilogam).

Ngoài ra Nguyễn Cảnh X khai còn bán cho Nguyễn Cảnh T6, sinh năm 1981, trú tại bản Chiềng, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. 03 lần 10 khối pháo nổ cụ thể:

  • Vào khoảng tháng 7/2024 (không rõ thời gian cụ thể), Nguyễn Cảnh T6 đến chơi nhà bố mẹ đẻ ở tại xóm M, xã M, huyện T thì gặp Nguyễn Cảnh X, T6 hỏi mua của X 01 (một) khối pháo hoa nổ loại 49 quả mà X đã mua của 01 (một) người không quen biết tại huyện D và đang cất giấu ở nhà, với giá 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn đồng). Đến ngày hôm sau, X mang 01 (một) khối pháo loại 49 quả đưa đến nhà bố mẹ T6 và đưa cho T6. Lúc này, T6 hỏi đặt mua thêm 04 (bốn) khối pháo hoa nổ loại 36 quả thì X đồng ý và thống nhất tổng số tiền của 04 (bốn) khối pháo nổ loại 36 quả và 01 (một) khối pháo nổ loại 49 quả trước đó là 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Tin đồng ý và đã trả cho X 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền mặt và hẹn lần sau về quê sẽ lấy 04 (bốn) khối pháo nổ loại 36 quả. Khoảng một tuần sau, X đặt mua của Lê Đình Đ 04 (bốn) khối pháo nổ loại 36 quả với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Đến chiều cùng ngày, Đ hẹn Xá đến khu vực nhà thờ giáo xứ P1

thuộc xóm H, xã M, T, tỉnh Nghệ An để lấy pháo. Đ để 04 (bốn) khối pháo nổ loại 36 quả trong túi nilong màu đen, để bên đường rồi X đến trả số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho Đ, rồi lấy số pháo nổ này mang về nhà cất giấu. Mấy ngày sau, khi T6 về quê, X đã mang túi nilon màu đen chứa 04 (bốn) cối pháo loại 36 quả đưa đến nhà cho T6. Tin lấy số pháo này đem về nhà tại huyện T để cất giấu để sử dụng. Đối với 05 (năm) khối pháo nổ này thì T6 đã đem ra sử dụng hết.

  • Vào khoảng tháng 12/2024 (không rõ thời gian cụ thể), T6 nhắn tin qua Zalo để hỏi đặt mua thêm 05 (năm) khối pháo hoa nổ loại 36 quả. Tin và X thống nhất giá của 05 (năm) khối pháo hoa nổ loại 36 quả là 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và T6 đã chuyển 4.750.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng 3615205741056 mang tên “NGUYEN CANH XA” tại ngân hàng A1 và hẹn khi T6 về nhà tại xã M thì sẽ đến lấy pháo. Sau khi nhận được tiền, X đặt mua của Đ 10 (Mười) cối pháo hoa nổ loại 36 quả, thì cả hai thống nhất giá của mỗi khối là 750.000 đồng (B2 trăm năm mươi nghìn đồng). Xá đã chuyển số tiền 7.000.000 đ (bảy triệu đồng) vào số tài khoản 3609205337810 mang tên “LE DINH DINH” tại ngân hàng Al cho Đ, còn nợ 500.000 đ (năm trăm nghìn đồng) thì Đ đồng ý. Đến khoảng 19 giờ tối cùng ngày, Đ hẹn X ra tại khu vực gần nhà thờ Giáo xứ P1 thuộc xóm H, xã M, huyện T để lấy pháo. Đ bỏ 10 (mười) khối pháo loại 36 quả trong một thùng giấy rồi bỏ bên đường rồi X đến lấy mang về nhà cất giấu. Khoảng 03-04 ngày sau, T6 về quê tại xã M thì X lấy 05 (năm) khối pháo loại 36 quả bỏ vào bì màu nâu đen, đưa đến nhà cho T6; còn 05 (năm) khối pháo nổ loại 36 quả còn lại thì X đã sử dụng hết. Tin đem 05 (năm) khối pháo nổ này đem về nhà tại huyện T cất giấu. Sau đó, T6 đã sử dụng hết 03 (ba) khối pháo nổ, còn lại 02 (hai) khối pháo nổ vẫn cất giấu ở nhà. Quá trình khám xét tại nhà ở của Nguyễn Cảnh T6, cơ quan điều tra thu giữ 02 khối pháo hoa nổ loại 36 quả có tổng khối lượng 3,282kg (Ba phẩy hai trăm tám mươi hai kilogam) (BL: 198-267)

Ngày 14/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T mời Nguyễn Cảnh X lên làm việc liên quan đến hành vi tàng trữ hàng cấm. Nhận thức được hành vi của mình nên Nguyễn Cảnh X đã đầu thú và tự nguyện giao nộp 04 (bốn) khối pháo hoa nổ loại 36 quả và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu vàng; có số seri R85HC5WZ9WN, EMEI 1: 355228085101770, IMEI 2: 355229085101778, số máy SM-G610F/DS, có gắn sim 0978480045, đã cũ, đã qua sử dụng (BL: 87-88)

Ngày 15/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T triệu tập Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 lên làm việc. Nhận thức được hành vi của mình nên Bùi Văn Á và Bùi Văn T4 tự nguyện xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành phạm tội của mình. Bùi Văn Á tự nguyện giao nộp 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhất có đặc điểm, kích thước tương đồng nhau, mỗi khối có kích thước (14x14x10)cm, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, có các dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 thỏi hình trụ tròn có đường kính đáy là 2,3cm, chiều cao 10cm (nghi là pháo nổ) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A53, màu đen, có số EMEI 1: 864326054023035, IMEI 2: 864326054023027, có gắn sim 1 số 0395638252; sim 2 số 0967147358, đã cũ, đã qua sử dụng; Bùi Văn T4 tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno8 T, màu xanh đen, có số EMEI 1: 863375062093473, IMEI 2: 863375062093465, có gắn sim 1 số 0354894036; sim 2 số 0948189885, đã cũ, đã qua sử dụng (BL: 90-91; 93-94)

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Chỉ T1 về hành vi buôn bán hàng cấm. Khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T1 Cơ quan CSĐT công an huyện T thu giữ: 03 (ba) bì xác rắn nhiều màu, bên ngoài có ghi nhiều chữ nước ngoài, bên trong mỗi bì đều chứa nhiều túi ni lông màu trắng, bên trong các túi ni lông đều chứa nhiều khối hình cầu, mỗi khối hình cầu được sơn 02 màu gồm nhiều màu sắc, phía trên mỗi khối cầu đều gắn một đoạn dây màu xanh; 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x9,5)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu, bên trong chứa 49 thỏi hình trụ tròn, chiều cao 9,5cm, đường kính đáy 2,5cm (nghi là pháo nổ); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (14,5x14,5x10)cm, bên ngoài dán giấy màu xám và màu vàng, bên trong chứa 36 thỏi hình trụ tròn, chiều cao 10cm, đường kính đáy 2cm (nghi là pháo nổ); 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật có kích thước mỗi khối (24x26x7)cm, bên ngoài có dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa một cuộn bọc bằng giấy màu đỏ, trong cùng có nhiều thỏi hình trụ tròn chiều cao 7cm, đường kính đáy 0,7cm được xếp liền kề nhau (nghi là pháo nổ); 01 (một) túi ni lông màu trắng bên trong có chứa nhiều khối hình cầu được sơn hai màu khác nhau gồm nhiều màu sắc, trên mỗi khối hình cầu đều gắn một đoạn dây màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu xanh đen, có số EMEI 1: 352469858594634, IMEI 2: 357132378594634, có gắn sim số 0974424283 đã cũ, đã qua sử dụng .

- Khám xét chỗ ở của Bùi Văn T4 CSĐT công an huyện T thu giữ: 01 (một) bì sọc rắn màu xanh bên trong chứa 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm, kích thước tương đồng nhau, mỗi khối có kích thước (14x14x10)cm, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, có các dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 thỏi hình trụ tròn có đường kính đáy là 2,3cm, chiều cao 10cm (nghi là pháo nổ); 01 (một) bì sọc rắn màu trắng xanh bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, trong đó có 04 (bốn) khối có đặc điểm, kích thước tương đồng nhau, mỗi khối có kích thước (14x14x10)cm, bên trong mỗi khối có 36 thỏi hình trụ tròn có đường kính đáy là 2,3cm, chiều cao 10cm và 01 (một) khối có kích thước (14,5x14,5x12,5)cm bên trong có 36 thỏi hình trụ tròn có đường kính đáy là 2,4cm, chiều cao 12,5cm; bên ngoài các khối có bọc giấy nhiều màu sắc, có các dòng chữ nước ngoài (nghi là pháo nổ)

- Khám xét chỗ ở của Nguyễn Cảnh T6 CSĐT công an huyện T thu giữ: 02 (hai) khối hình hộp chữ nhất có đặc điểm, kích thước tương đồng nhau, mỗi khối có kích thước (14,5x14,5x12,5)cm, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, có các dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 thỏi hình trụ tròn có đường kính đáy là 2,4cm, chiều cao 12,5cm (nghi là pháo nổ)

Ngày 21/12/2024, Lê Đình Đ đến cơ quan CSĐT Công an huyện T tự nguyện xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu hồng, số máy: MN902VN/A, số Seri: DNPVK42QHG7H; số EMEI: 356554088773284, có gắn sim số 0372521536, máy cũ, đã qua sử dụng

Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 15/12/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác định được: 04 khối pháo thu giữ của Nguyễn Cảnh X ngày 14/12/2024 có tổng khối lượng là 6,444 kg (Sáu phẩy bốn trăm bốn mươi bốn kilogam); Trọng lượng pháo thu

giữ của Đinh Chỉ T1: 03 (ba) bì xác rắn pháo bi có tổng khối lượng 13,367kg (Mười ba phẩy ba trăm sáu mươi bảy kilogam) 01 túi pháo bi có tổng khối lượng: 0,435kg (Không phẩy bốn trăm ba mươi lăm kilogam); 01 (một) khối pháo nổ có khối lượng: 1,116kg (Một phẩy một trăm mười sáu kilogam); 03 (ba) khối pháo dây có tổng khối lượng: 5,218kg (Năm phẩy hai trăm mười tám kilogam); 09 (chín) khối pháo nổ thu giữ của Bùi Văn T4 có tổng khối lượng 10,355 kg (Mười phẩy ba trăm năm mươi lăm kilogam); 06 khối pháo có tổng khối lượng 9,501 kg (Chín phẩy năm trăm linh một kilogam); 02 khối pháo thu giữ của Nguyễn Cảnh T6 có tổng khối lượng 3,282kg (Ba phẩy hai trăm tám mươi hai kilogam).

Như vậy tổng khối lượng pháo Lê Đình Đ mua về cất giữ tại nhà Đinh Chỉ T1 để bán kiếm lời là số pháo đã thu giữ được của Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 và Nguyễn Cảnh T6 gồm 25 khối pháo loại 36 quả; 03 khối pháo loại 49 quả, 31 bịch pháo bi; 03 hộp chứa 03 cuộn pháo dây có tổng khối lượng 54,286 kg (Năm mươi tư phẩy hai trăm tám mươi sáu kilogam),

Tại bản kết luận giám định số 07/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 20/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N, kết luận :

  • “- Mẫu vật do Nguyễn Cảnh X tự nguyện giao nộp (Ký hiệu M1A) gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
  • Mẫu vật do Bùi Văn Á tự nguyện giao nộp (Ký hiệu M2A) gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
  • Các mẫu vật thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Bùi Văn T4 (Ký hiệu M3,M4A và M5A) gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
  • Các mẫu vật thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T7 (Ký hiệu M6A,M7A,M8,M9A và M10) gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.
  • Các mẫu vật thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Nguyễn Cảnh T6 (Ký hiệu M11A) gửi giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ”

Trong quá trình điều tra Nguyễn Cảnh X phạm tội 02 lần trở lên; Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; sau khi thực hiện hành vi phạm tội Lê Đình Đ, Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 đã đầu thú; Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Lê Đình Đ có ông bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Nguyễn Cảnh X có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Bùi Văn Á có mẹ tham gia dân công hỏa tuyến, ông bà nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; Bùi Văn T4 có bố được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, ông bà nội được tặng bằng khen vì có thành tích tham gia chống Mỹ cứu nước.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã lấy đi giám định và đã giám định hết trong quá trình giám định: 02 (Hai) khối pháo nổ trong số 04 khối pháo nổ do Nguyễn Cảnh X giao nộp có khối lượng 3,236 kg (Ba phẩy hai trăm ba mươi sáu kilogam); 02 (Hai) khối pháo nổ trong số 06 khối pháo nổ do Bùi Văn Á tự nguyện giao nộp có khối lượng 3,166kg (Ba phẩy một trăm sáu mươi sáu

kilogam); 04 (bốn) khối pháo nổ do số 09 khối pháo nổ Bùi Văn T4 tự nguyện giao nộp có khối lượng là 4,385kg (bốn phẩy ba trăm tám mươi lăm kilogam); 06 (sáu) túi ni lông chứa các khối pháo hình cầu nhiều màu sắc trong 03 (ba) bì xác rắn, trong thùng cát tông thứ nhất thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T1 có khối lượng là 2,663kg (hai phẩy sáu trăm sáu mươi ba kilogam); 01 (một) khối pháo nổ có kích thước 17x17x9,5 cm trong thùng cát tông thứ hai thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T1 có khối lượng là 1,657kg (một phẩy sáu trăm năm mươi bảy kilogam); 01 (một) khối pháo nổ có kích thước 14,5x14,5x10 cm trong thùng cát tông thứ hai thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T1 có khối lượng là 1,116kg (một phẩy một trăm mười sáu kilogam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật chứa một cuộn pháo dây màu đỏ có kích thước 24x26x7 cm, trong thùng cát tông thứ hai thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T1 có khối lượng là 1,739kg (một phẩy bảy trăm ba mươi chín kilogam); 01 (một) túi ni lông chứa các khối pháo nổ hình cầu nhiều màu sắc trong thùng cát tông thứ hai thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Đinh Chỉ T1 có khối lượng là 0,435kg (không phẩy bốn trăm ba mươi lăm kilogam); 01 (Một) khối pháo nổ có kích thước 15x15x12,5 cm trong số 02 khối pháo nổ thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Cảnh T6 có khối lượng 1,592 kg (một phẩy năm trăm chín mươi hai kilogam);

Còn lại: 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M1), 04 (Bốn) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M2), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M4), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M5), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M9) và 01 (Một) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M11) được niêm phong trong một bì xác rắn theo đúng quy định (Ký hiệu bì số 01); 03 (Ba) bì xác rắn, nhiều màu sắc, bên ngoài có ghi nhiều chữ nước ngoài, bên trong mỗi bì đều chứa 08 (T8) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông đều chứa nhiều khối hình cầu, mỗi khối hình cầu được sơn hai màu khác nhau gồm nhiều màu sắc, phía trên mỗi khối hình cầu đều gắn một đoạn dây màu xanh (Nghi là pháo nổ) (Ký hiệu M6), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M7) được niêm phong trong một bì xác rắn theo đúng quy định, (Ký hiệu bì số 02); 01 túi ni lông màu đen niêm phong ban đầu, 04 thùng cát tông niêm phong ban đầu, 01 bì xác rắn màu trắng xanh, 01 bì xác rắn màu xanh, 01 bì xác rắn màu đỏ được niêm phong lại theo đúng quy định.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A53, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno8 T, màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7,

Bản cáo trạng số 29/CT - VKS ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1 về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Truy tố Nguyễn Cảnh X về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Truy tố Bùi Văn T4, Bùi Văn Á về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T4, Bùi Văn Á phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đình Đ.

Xử phạt: Lê Đình Định mức án từ 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 190, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Chỉ T1.

Xử phạt: Đinh Chỉ T1 mức án từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Cảnh X.

Xử phạt: Nguyễn Cảnh X mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt Bùi Văn T4 từ 70.000.000đồng đến 80.000.000đồng.

- Xử phạt Bùi Văn Á 70.000.000đồng đến 80.000.000đồng

Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu huỷ số pháo còn lại sau giám định gồm: 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M1), 04 (Bốn) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M2), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M4), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M5), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M9) và 01 (Một) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M11) được niêm phong trong một bì xác rắn theo đúng quy định (Ký hiệu bì số 01); 03 (Ba) bì xác rắn, nhiều màu sắc, bên ngoài có ghi nhiều chữ nước ngoài, bên trong mỗi bì đều chứa 08 (T8) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông đều chứa nhiều khối hình cầu, mỗi khối hình cầu được sơn hai màu khác nhau gồm nhiều màu sắc, phía trên mỗi khối hình cầu đều gắn một đoạn dây màu xanh (Nghi là pháo nổ) (Ký hiệu M6), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M7) được niêm phong trong một bì xác rắn theo đúng quy định, (Ký hiệu bì số 02); 01 túi ni lông màu đen niêm phong ban đầu, 04 thùng cát tông niêm phong ban đầu, 01 bì xác rắn màu trắng xanh, 01 bì xác rắn màu xanh, 01 bì xác rắn màu đỏ được niêm phong lại theo đúng quy định ; 01 thùng cát tông hình hộp vuông, bên trong chứa 01 tíu ni lông màu đen niêm phong ban đầu, 03 thùng cát tong niêm phong ban đầu, 01 bì xác rắn màu trắng xanh; 01 bì xác rắn màu xanh; 01 bì xác rắn màu đỏ.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A53, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno8 T, màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di

động nhãn hiệu IPHONE 7, màu hồng là phương tiện, công cụ các bị cáo dùng để liên lạc mua, bán P nổ do đó đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

-Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền tại bị cáo 15.750.000 đồng Lê Đình Đ là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán Pháo nổ.

-Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 16.600.000 đồng tại bị cáo Nguyễn Cảnh X là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán Pháo nổ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với biên bản khám xét; phù hợp với bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận:Vào khoảng tháng 6/2024 tại huyện K, tỉnh Nghệ An, Lê Đình Đ đã gặp và mua của người đàn ông không quen biết 25 khối pháo loại 36 quả; 03 khối pháo loại 49 quả, 31 bịch pháo bi; 03 hộp chứa 03 cuộn pháo dây có tổng khối lượng 54,286 kg đem về gửi nhờ ở nhà Đinh Chỉ T1 với mục đích bán kiếm lời và Đinh Chỉ T1 đã 02 lần đi giao pháo cho Lê Đình Đ.

Cụ thể Lê Đình Đ đã bán cho Nguyễn Cảnh X 21 khối pháo nổ với tổng khối lượng 29,582 kg.

Đối với Nguyễn Cảnh X sau khi mua pháo nổ của Lê Đình Đ đã bán lại cho Bùi Văn T4 09 khối pháo nổ có trọng lượng 10,355 kg, bán lại cho Bùi Văn Á 06 khối pháo hoa nổ có trọng lượng 9,501 kg và bán lại cho Nguyễn Cảnh T6 02 khối pháo nổ có khối lượng 3,282 kg.

Tổng khối lượng pháo nổ Lê Đình Đ mua bán là 54,286 kg (Năm mươi tư phẩy hai trăm tám mươi sáu kilogam); Đinh Chỉ T1 với vai trò giúp sức đã cho Lê Đình Đ cất

dấu 54,286 kg (Năm mươi tư phẩy hai trăm tám mươi sáu kilogam) pháo nổ để bán kiếm lời.

Tổng khối lượng pháo nổ Nguyễn Cảnh X đã mua bán là 29,582 kg (Hai mươi chín phẩy năm trăm tám mươi hai ki lô gam).

Tổng khối lượng pháo nổ Bùi Văn T4 tàng trữ để sử dụng là 10,355 kg (Mười phẩy ba trăm năm mươi lăm kilogam); Bùi Văn Á tàng trữ để sử dụng là 9,501 kg (Chín phẩy năm trăm linh một kilogam) pháo nổ để sử dụng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1 đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Cảnh X đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vai trò của các bị cáo thì thấy rằng:

Đối với hành vi “ Buôn bán hành cấm” thì bị cáo Lê Đình Đ có vai trò cao cao hơn, có thu lợi bất chính từ việc buôn bán Pháo nổ; Bị cáo Đinh Chỉ T1 giữ vai trò giúp sức bị cáo Đ cho gửi P và đi giao Pháo hộ, T1 không thu lợi bất chính do đó vai trò thấp hơn bị cáo Đ. Đối với Nguyễn Cảnh X giữ vai trò thấp hơn bị cáo Đ, bị cáo T1, số lượng Pháo nổ bị cáo buôn bán ít hơn bị cáo Đ, bị cáo T1 do đó bị cáo bị truy tố ở khung hình phạt thấp hơn.

Đối với hành vi “Tàng trữ hàng cấm” thì bị cáo Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 đều có mục đích mua pháo về sử dụng, vai trò là ngang nhau.

Các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 đều là người có nhân thân tốt; Các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Cảnh X có 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “ Phạm tội 02 lần trở lê” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 của Bội luật hình sự.

Các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Lê Đình Đ, Nguyễn Cảnh X sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo Lê Đình Đ có ông bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Nguyễn Cảnh X có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất được quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo Bùi Văn Á có mẹ tham gia dân công hỏa tuyến, ông bà nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Bùi Văn T4 có bố được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, ông bà nội được tặng bằng khen vì có thành tích tham gia chống Mỹ cứu nước được quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo Lê Đình Đ là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.

Đối với bị cáo Đinh Chỉ T1 là người giúp sức cho bị cáo Lê Đình Đ, do có quan hệ anh con cô, con cậu với bị cáo Đ nên nể nả cho Đ gửi nhờ và đi giao hộ Pháo cho Đ, bị cáo T1 không được hưởng lợi gì trong việc buôn bán Pháo nổ, vai trò không đáng kể trong vụ án do đó áp dụng Điều 17 của bộ luật hình sự phân hoá vai rò bị cáo xử phạt bị cáo mức án thấp hơn bị cáo Đ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp lý.

Đối với bị cáo Nguyễn Cảnh X có vai trò thấp hơn bị cáo Đ, bị cáo T1, số lượng Pháo nổ buôn bán ít hơn, do đó bị cáo chịu trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 190 tương ứng với số lượng pháo nổ mà bị cáo buôn bán và phải chịu hình phạt thấp hơn bị cáo Đ, bị cáo T1, do đó xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1, Nguyễn Cảnh X làm nghề lao động tư do, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Các bị cáo Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 với mục đích mua Pháo về tàng trữ để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán, số lượng pháo nổ tàng trữ là ít, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có tài sản để đảm bảo thi hành án do đó áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Xử lý vật chứng: Số lượng 34,297 kg Pháo nổ còn lại sau giám định, các đồ vật như thùng xốp, bì xác rắn đựng pháo nổ tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A53, màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno8 T, màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu hồng là phương tiện, công cụ các bị cáo dùng để liên lạc mua, bán Pháo nổ do đó tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 15.750.000 đồng là tiền do bị cáo Lê Đình Đ thu lợi bất chính từ việc bán Pháo nổ, do đó truy thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 16.600.000đồng là tiền do bị cáo Nguyễn Cảnh X thu lợi bất chính từ việc bán Pháo nổ, do đó truy thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này theo lời khai của Nguyễn Cảnh X và Nguyễn Cảnh T6 thì Nguyễn Cảnh T6 đã 03 lần mua bán pháo của Nguyễn Cảnh X để sử dụng, ngoài lời khai không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện T chỉ thu giữ được 02 khối pháo nổ có trọng lương 3,282 kg (Ba phẩy hai trăm tám mươi hai) kg. Hành vi này của T6 chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT công an huyện T đề nghị UBND huyện T xử phạt hành chính là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Theo lời khai của Lê Đình Đ còn có người đàn ông đã bán pháo cho Đ và người đã vận chuyển pháo cho Đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đình Đ.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 190, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Chỉ T1.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Cảnh X.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn Á, Bùi Văn T4.

1.Tuyên bố các bị cáo: Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1 và Nguyễn Cảnh X phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”

  • Xử phạt Lê Đình Đ 05 (Năm) năm tù .Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 đến ngày 27/02/2025.
  • Xử phạt Đinh Chỉ T1 03 (Ba) năm tù.Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến ngày 27/02/2025.
  • Xử phạt Nguyễn Cảnh X 15 (Mười lăm) tháng tù .Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024.

2.Tuyên bố các bị cáo: Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”

  • Xử phạt Bùi Văn T4 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu).Tạm giữ số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu) bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012402 ngày 19/3/2025 để đảm bảo việc thi hành án.
  • Xử phạt Bùi Văn Á 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu).Tạm giữ số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu) bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012401 ngày 19/3/2025 để đảm bảo việc thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

-Tịch thu tiêu huỷ 34,297 kg Pháo nổ còn lại sau giám định gồm: 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M1), 04 (Bốn) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M2), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M4), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M5), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M9) và 01 (Một) khối hình hộp chữ nhật

(ký hiệu M11) được niêm phong trong một bì xác rắn theo đúng quy định (Ký hiệu bì số 01); 03 (Ba) bì xác rắn, nhiều màu sắc, bên ngoài có ghi nhiều chữ nước ngoài, bên trong mỗi bì đều chứa 08 (T8) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông đều chứa nhiều khối hình cầu, mỗi khối hình cầu được sơn hai màu khác nhau gồm nhiều màu sắc, phía trên mỗi khối hình cầu đều gắn một đoạn dây màu xanh (Nghi là pháo nổ) (Ký hiệu M6), 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật (ký hiệu M7) được niêm phong trong một bì xác rắn theo đúng quy định, (Ký hiệu bì số 02); 01 túi ni lông màu đen niêm phong ban đầu, 04 thùng cát tông niêm phong ban đầu, 01 bì xác rắn màu trắng xanh, 01 bì xác rắn màu xanh, 01 bì xác rắn màu đỏ được niêm phong lại theo đúng quy định.

(Chi tiết vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng ngày 21/12/2024; Phiếu nhâph kho vật chứng ngày 21/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và được lưu giữ tại kho vật chứng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N)

-Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng cát tông hình hộp vuông, bên trong chứa 01 tíu ni lông màu đen niêm phong ban đầu, 03 thùng cát tong niêm phong ban đầu, 01 bì xác rắn màu trắng xanh; 01 bì xác rắn màu xanh; 01 bì xác rắn màu đỏ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu vàng; có số seri R85HC5WZ9WN, EMEI 1:355228085101770 , IMEI 2: 355229085101778, số máy SM-G610F/DS, có gắn sim 0978480045, đã cũ, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A53, màu đen, có số EMEI 1: 864326054023035, IMEI 2: 864326054023027, có gắn sim 1 số 0395638252; sim 2 số 0967147358, đã cũ, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu xanh đen, có số EMEI 1: 352469858594634, IMEI 2: 357132378594634, có gắn sim số 0974424283 đã cũ, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno8 T, màu xanh đen, có số EMEI 1: 863375062093473, IMEI 2: 863375062093465, có gắn sim 1 số 0354894036; sim 2 số 0948189885, đã cũ, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7, màu hồng, số máy: MN902VN/A, số Seri: DNPVK42QHG7H; số EMEI: 356554088773284, có gắn sim số 0372521536, đã cũ, đã qua sử dụng.

( Chi tiết theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)

-Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 15.750.000 đồng(Mười lăm triệu, bảy trăm năm mươi ngàn) tại bị cáo Lê Đình Đ là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán Pháo nổ.

-Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 16.600.000 đồng(Mười sáu triệu, sáu trăm ngàn) tại bị cáo Nguyễn Cảnh X là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán Pháo nổ.

4.Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lê Đình Đ, Đinh Chỉ T1 và Nguyễn Cảnh X, Bùi Văn Á, Bùi Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Thanh Chương;
  • - Phòng PV 06 Công An tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Minh Tiến, H/Thanh chương
  • (thay thông báo)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 27/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lê Đình Đ và đồng bọn Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger