Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 23/4/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Chuyên

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, mở phiên toà trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh G, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1972 tại huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố P, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang; Mã định danh cá nhân 002072001836; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công T (đã chết) và bà Đào Thị C (đã chết); vợ, con: không có; tiền sự: Không

Tiền án: Có 04 tiền án

- Bản án số 09/PT, ngày 06/9/1994 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xử bị cáo Nguyễn Minh G 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân.

- Bản án số 16/HSST ngày 18/7/1995 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử bị cáo Nguyễn Minh G 18 (mười tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân.

- Bản án số 57/HSST ngày 21/9/1999 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xử bị cáo Nguyễn Minh G 15 (mười lăm) năm tù về tội “mua bán trái phép các chất ma túy” và 15 năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy”, tổng hợp phạt bị cáo Nguyễn Minh G 20 năm tù giam. Ngày 05/3/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành xong hình phạt bổ sung đối với số tiền phạt 20.000.000 đồng.

- Bản án số 30/2017/HSST, ngày 26/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang xử phạt bị cáo Nguyễn Minh G 06 (sáu) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 14/10/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2023 (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Chương Thị X, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • + Ông Trương Văn H, sinh năm 1964 (vắng mặt).
  • + Anh Trần Văn S, sinh năm 1984 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 24/12/2023, trên đường đi từ tổ dân phố B, thị trấn V về tổ dân phố P, thị trấn V huyện B, tỉnh Hà Giang, Nguyễn Minh G nhìn thấy một người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1m67cm, nước da ngăm đen đứng ở khu vực cầu V, thị trấn V giống người nghiện ma túy. Nhận thấy việc bán ma túy có lợi nhuận, G nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho những người nghiện, G hỏi: “anh có heroine không bán cho em 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng)”, người đàn ông trả lời “có” rồi đưa cho G 02 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy heroine, G đưa 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) cho người đàn ông rồi đi về. Đến nhà, G chia số ma túy vừa mua được ra thêm 01 gói giấy màu trắng rồi dùng túi nilon màu trắng gói lại.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, Trương Văn H cùng Trần Văn S góp tiền nhau (Hiện góp 100.000đ, S góp 500.000đ) mục đích cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng. Hiện gọi điện cho Nguyễn Minh G hỏi mua ma túy heroine, G đồng ý bán. Sau đó H và S cùng nhau đi đến nhà G, Hiện và S vào nhà cùng với G ngồi trong phòng khách, Hiện hỏi G mua 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) ma túy loại heroine và đặt tiền xuống mặt bàn uống nước gồm 01 tờ mệnh giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), 01 tờ mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). G cầm tiền và lấy 02 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa ma túy heroine đặt xuống

bàn, H cầm lấy ma túy cùng S đi về. Đến khu vực nghĩa trang T1, xã V, huyện B cả hai cùng nhau sử dụng ma túy, khi vừa sử dụng xong thì bị Công an huyện B kiểm tra phát hiện. Quá trình đấu tranh, H và S khai nhận mua ma túy của Nguyễn Minh G về sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Nguyễn Minh G và khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy heroine cùng số tiền 3.290.000đ (Ba triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) và một điện thoại di động.

Ngày 24/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Minh G, Trương Văn H, Trần Văn S. Kết luận tại thời điểm tiến hành xét nghiệm Nguyễn Minh G âm tính với chất ma túy; Trương Văn H và Trần Văn S dương tính với ma túy heroine.

Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Phòng K Công an tỉnh H tiến hành mở niêm phong, cân tịnh chất màu trắng dạng cục và dạng bột thu giữ khi khám nghiệm hiện trường khu vực nhà Nguyễn Minh G có khối lượng 0,101 gam (Không phẩy một không một gam).

Tại bản kết luận giám định số 27/KL - KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

  • - 01 (một) mẫu chất màu trắng dạng bột và dạng cục ký hiệu A là ma túy, loại heroin có khối lượng là 0,101 gam (không phẩy một không một gam).

Heroine có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Ngày 29/01/2024, Phòng K Công an tỉnh H ban hành kết luận giám định số 75, kết luận: "12 (mười hai) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật".

Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSBQ_ngày 27/03/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang truy tố bị cáo Nguyễn Minh G về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh G về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh G từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù. Về xử lý vật chứng, án phí, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh G thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, nhất trí với bản luận tội

của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có lời khai, lời khai của họ đầy đủ, rõ ràng và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh G thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, tại nhà của Nguyễn Minh G thuộc tổ dân phố P, thị trấn V, huyện B, Nguyễn Minh G có hành vi bán trái phép chất ma túy, loại heroine cho Trương Văn H và Trần Văn S. Điều tra mở rộng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B khám xét khẩn cấp khu vực chỗ ở của Nguyễn Minh G thu giữ khối lượng 0,101 gam (không phẩy một không một gam) ma túy, loại heroine, với mục đích bán để kiếm lời. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra (bút lục 118 – 119, 121 – 122, 124 – 125), phù hợp với lời khai của những người làm chứng (bút lục 99-109; 127-135), tài liệu hiện trường (bút lục 52 – 64), tài liệu giám định (bút lục 86-94), tài liệu nhận dạng (bút lục 138-149), cùng những chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ và được thẩm tra xác minh tại phiên toà. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị kết án với tình tiết tái phạm nguy hiểm, chưa được xoá án tích nay lại thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho hai người, đây là 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Minh G đã phạm Tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Viện kiểm sát huyện B, tỉnh Hà Giang đã

truy tố bị cáo về Tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

....

c) Đối với 02 người trở lên;

....

q) Tái phạm nguy hiểm”

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh G là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân rất xấu, có 04 tiền án chưa được xoá án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trương Văn H, Trần Văn S đã bị Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh G do bị cáo khai không biết về nhân thân, lai lịch và địa chỉ của người bán ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 3.290.000₫ (Ba triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Minh G, trong đó có 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) là tiền do bị cáo

phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước; số tiền còn lại là 2.690.000đ (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng do bị cáo chưa thi hành án nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim số 0379375314 thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh G là công cụ, phương tiện dùng để phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG loại màn hình cảm ứng màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim số 0977520125 thu giữ của Trương Văn H thuộc quyền sở hữu của Chương Thị X, chị X không biết H sử dụng trao đổi mua ma tuý và hành vi của H bị xử phạt vi phạm hành chính nên cần trao trả lại điện thoại cho chủ sở hữu là có cơ sở.

Đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu A, đây là vật cấm lưu hành nên cần tiêu huỷ. Đối với các vỏ bao gói sau giám định và vỏ túi niêm phong cũ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc hội, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh G 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 24/12/2023).

  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím màu đen,

không kiểm tra tình trạng máy bên trong, cũ đã qua sử dụng, gắn sim số 0379375314 của Nguyễn Minh G.

  • - Trả lại cho chị Chương Thị X 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG loại màn hình cảm ứng màu đen, mặt trước có nhiều vết nứt vỡ, không kiểm tra tình trạng máy bên trong, cũ đã qua sử dụng, gắn sim số 0977520125.
  • - Tạm giữ số tiền 2.690.000đ (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh G để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước ghi “vỏ bao gói sau giám định vụ Nguyễn Minh G”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia; 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước ghi “vỏ túi niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 01 (hai) hình dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện B và chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia; 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước ghi “mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A vụ Nguyễn Minh G”, mặt sau phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của các thành phầm tham gia.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang ngày 22/4/2024).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh G phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Hà giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Công an huyện Bắc Quang (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND tt Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang;
  • - Lưu HS, bộ phận.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về hình sự sơ thẩm: mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh G bị VKSND huyện Bắc Quang truy tố về tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger