Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 26/2024/HSST

Ngày 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành, ông Trần Giai Thưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 và ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Dụng V, sinh năm 1981.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 5/12. Họ và tên cha: Nguyễn Dụng V1, sinh năm 1953. Họ và tên mẹ: Hà Thị T, sinh năm 1953. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02. Vợ: Nguyễn Thùy N, sinh năm 1990. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Phạm Công H, sinh năm 1990

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha: Phạm Công C, sinh năm 1965. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1968. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn. Vợ: Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1993. Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

3. Nông Văn T1, sinh năm 1973

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha: Nông Văn H2, sinh năm 1945. Họ và tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm 1945. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 02. Vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1976. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

4. Lê Văn T2, sinh năm 1989.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha: Trần Văn L1 (đã chết). Họ và tên mẹ: Lê Thị Đ, sinh năm 1956. Bị cáo là con duy nhất. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

5. Nguyễn Dũng T3, sinh năm 1968.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 7/12. Họ và tên cha: Nguyễn Dụng B (đã chết). Họ và tên mẹ: Trần Thị D, sinh năm 1924. Gia đình có 09 anh em, bị cáo là con út. Vợ: Dương Thị N1, sinh năm 1969. Con: Có 04 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

6. Bùi Ngọc T4, sinh năm 1978.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Bùi Ngọc H4 (đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1940. Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ thứ 6. Vợ: Nguyễn Thị T6, sinh năm 1984. Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

7. Nông Văn A, sinh năm 1976.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha: Nông Văn H2, sinh năm 1945. Họ và tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm 1945. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03. Vợ: Phạm Thị H5, sinh năm 1981. Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

8. Nguyễn Đức H6, sinh năm 1969.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 1/10. Họ và tên cha: Nguyễn Đức H7 (đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T7, sinh năm 1945. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 01. Vợ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1970. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

9. Nguyễn Dụng T8, sinh năm 1965.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Thôn Đồng Đông, xã Đại Đồng Thành, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

HKTT: Thôn 1, xã Cư Prao, huyện MĐrắk, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 5/10. Họ và tên cha: Nguyễn Dụng B (đã chết). Họ và tên mẹ: Trần Thị D, sinh năm 1924. Gia đình có 09 anh em, bị cáo là con thứ 08. Vợ:

Đoàn Thị T9, sinh năm 1969. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1998.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

10. Dương Quang T10, sinh năm 1984.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Cư trú: Khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 5/12. Họ và tên cha: Dương Quang P, sinh năm 1960. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T11, sinh năm 1962. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 01. Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1983. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 18/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, tại phòng khách tầng 01 nhà chị Hoàng Thị M, sinh năm 1994 trú tại khu phố B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Lực lượng Công an thị xã T bắt quả tang 07 đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền gồm Nguyễn Dũng T12, Nông Văn T1, Nguyễn Đức H6, Phạm Công H, Nguyễn Dũng T3 đều trú tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và Lê Văn T2, trú tại thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Bùi Ngọc T4 ở khu B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân có mặt phía sau màu đỏ, 01 chiếu nhựa màu xanh và 7.620.000 đồng trên chiếu bạc. Ngoài ra Bùi Ngọc T4 tự giác giao nộp số tiền 48.000 đồng; Lê Văn T2 tự giác giao nộp số tiền 125.000 đồng.

Ngày 12/01/2024, Dương Quang T10 trú tại khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Nông Văn A và Nguyễn Dụng V cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đến Công an thị xã T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Dụng V đã tự giác giao nộp số tiền 3.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.620.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 25/Ctr-VKS- TT ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Dụng V, Phạm Công H, Nông Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Dũng M1, Bùi Ngọc T4, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dụng T8 và Nguyễn Quang T13 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận:

Buổi chiều ngày 11/01/2024, chị Hoàng Thị M làm cơm tổng kết thợ xây nhà và mời mọi người đến mừng tân gia lên nhà mới. Khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn cỗ xong, các đối tượng Nguyễn Dũng T3, Nông Văn T1, Nguyễn Đức H6, Phạm Công H, Nguyễn Dụng V, Nông Văn A và Lê Văn T2 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền tại phòng khách tầng 01 nhà chị M. Trong đó, T1 rủ mọi người và lấy 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân trên cửa sổ nhà chị M cầm xuống để mọi người sử dụng đánh bạc. Khi mọi người đang đánh bạc thì Nguyễn Dụng T8 và Bùi Ngọc T4 vào tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Về cách thức đánh bạc, các đối tượng quy định lần lượt mỗi người vào gà 01 lần cho tất cả những người tham gia đánh bạc số tiền 100.000 đồng để vào giữa chiếu, sau đó sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia cho mỗi người 03 quân bài rồi tính điểm. Sau đó tố thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 50.000 đồng, quá trình tố theo vòng, nếu ai không theo thì úp bài, nếu ai điểm cao nhất thì được lấy tiền “gà” và tiền “tố” của mọi người về, nếu ai được sáp, tức là 03 quân bài cùng hàng như “AAA” thì những người đánh bạc còn lại phải trả 50.000 đồng, nếu ai được liêng đồng hoa, tức là 03 quân bài đồng chất liền kề nhau như “123 rô hoặc các chất còn lại” thì những người đánh bạc còn lại phải trả 30.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc T13 ngồi xem, chia bài và đánh bài hộ Thạo. Sau đó V, A và Thế nghỉ và về trước. Các đối tượng còn lại tiếp tục đánh bạc đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã T phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Các bị cáo khai về số tiền bản thân đã sử dụng đánh bạc như sau:

Bị cáo Nguyễn Dụng V khai mang theo 2.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Vách thắng số tiền 500.000 đồng sau đó bỏ về trước. Ngày 12/01/2024, V đến Công an thị xã T đầu thú và tự giác giao nộp số tiền 3.000.000 đồng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Bị cáo Phạm Công H khai có 2.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ để đánh bạc, quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua, khi bị bắt H thắng số tiền 600.000 đồng, tổng số tiền 2.600.000 đồng H để ở chiếu và bị thu giữ.

Bị cáo Nông Văn T1 khai có 770.000 đồng, T1 sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Quá trình đánh bạc T1 không thua, không thắng, T1 cho Nguyễn Dụng T8 100.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt số tiền đánh bạc T1 để dưới chiếu trước mặt và đã bị tạm giữ.

Bị cáo Lê Văn T2 khai có số tiền 725.000 đồng, T2 bỏ ra số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Số tiền còn lại 125.000 đồng, T2 xác định không dùng để đánh bạc nên để riêng ở túi áo. Quá trình đánh bạc, T2 thắng số tiền 900.000 đồng. Khi bị bắt tín có 1.500.000 đồng để dưới chiếu trước mặt và đã bị tạm giữ cả số tiền 125.000 đồng không dùng đánh bạc.

Bị cáo Nguyễn Dũng T3 khai mang theo 530.000 đồng, sử dụng toàn bộ để đánh bạc, quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua. Khi bị bắt T3 thua số tiền 30.000 đồng, còn 500.000 đồng T3 để trước mặt và bị tạm giữ.

Bị cáo Bùi Ngọc T4 khai có 448.000 đồng, T4 bỏ ra số tiền 400.000 đồng để đánh bạc. Số tiền còn lại 48.000 đồng, T4 xác định không dùng để đánh bạc nên để

riêng ở túi quần sau bên phải. Quá trình đánh bạc, T4 không thua, không thắng, T4 cho Nguyễn Dụng T8 100.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt số tiền đánh bạc T4 để dưới chiếu trước mặt và đã bị tạm giữ, tạm giữa cả số tiền 48.000 đồng của bị cáo.

Bị cáo Nông Văn A khai mang theo 400.000 đồng sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Anh thua hết số tiền trên nên đã bỏ về trước.

Bị cáo Nguyễn Đức H6 khai mang theo 350.000 đồng, sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Khi bị bắt H6 thắng số tiền 300.000 đồng, tổng có 650.000 đồng H6 để trước mặt và bị tạm giữ.

Bị cáo Nguyễn Dụng T8 khai không có tiền nên xin của T1 100.000 đồng, của T4 100.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T8 thắng được số tiền 300.000 đồng, tổng có 500.000 đồng để dưới chiếu bạc và bị tạm giữ.

Bị cáo Dương Quang T10 khai không trực tiếp tham gia đánh bạc mà ngồi thực hiện hành vi chia bài hộ, lên bài hộ, vào tiền “tố” và lấy tiền “gà” giúp T8. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, T10 đã về nhà sau đó đến Công an thị xã T đầu thú.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên toà đã đưa ra chứng cứ để buộc tội đối với các bị cáo về hành vi “Đánh bạc” với số tiền dùng để đánh bạc là 10.620.000 đồng. Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Dụng V, Phạm Công H, Nông Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Dũng M1, Bùi Ngọc T4, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dụng T8Nguyễn Quang T13 phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 65 của BLHS:

Xử phạt các bị cáo Nông Văn T1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt các bị cáo Phạm Công H, Lê Văn T2, Bùi Ngọc T4 từ 08 đến 11 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 22 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của BLHS:

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Dụng V, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dũng T3, Nguyễn Dụng T8 từ 07 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Dương Quang T10 từ 06 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự đề nghị phạt bổ sung các bị cáo mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền dùng đánh bạc 10.620.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân có mặt phía sau lưng màu đỏ; 01 chiếu nhựa màu xanh.

Đối với số tiền 48.000 đồng tạm giữ của bị cáo T4 và số tiền 125.000 đồng tạm giữ của bị cáo T2, bị cáo T4 và bị cáo T2 không dùng tiền này để đánh bạc. Số tiền này xác định không liên quan đến tội phạm nhưng tại phiên tòa bị cáo T4, bị cáo T2 đều tự nguyện không nhận lại nên sung ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo nhất trí với phần luận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội cải tạo tại địa phương. Các bị cáo cũng đề nghị được miễn hình phạt bổ sung.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về việc thực hiện trình tự tố tụng đối với vụ án:

Quá trình thực hiện thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với thời gian địa điểm phạm tội, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:

Trong khoảng thời gian từ 19 giờ đến 21 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, tại phòng khách tầng 01 nhà chị Hoàng Thị M, sinh năm 1994 trú tại khu phố B, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Các bị cáo gồm Nguyễn Dụng V, Phạm Công H, Nông Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Dũng T3, Bùi Ngọc T4, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dụng T8 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là 10.620.000 đồng, do đó hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội đánh bạc. Đối với bị cáo Dương Quang T10 tuy không trực tiếp dùng tiền đánh bạc nhưng bị cáo T10 có hành vi chia bài hộ cho các bị cáo

khác đánh bạc, bị cáo lên bài hộ, vào tiền tố và lấy tiền gà giúp bị cáo T8 nên hành vi của bị cáo cũng phạm vào tội đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố các bị cáo về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về động cơ, mục đích, tính chất cũng như vai trò của các bị cáo trong hành vi phạm tội:

Các bị cáo do ham chơi, máu đỏ đen sát phạt nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo mặc dù đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì máu đỏ đen sát phạt, coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm tới an ninh trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo chẳng những làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trong cộng đồng dân cư, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của nhiều gia đình khi có con em, người thân mê muội cờ bạc và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Sau khi bị cáo T1 khởi sướng việc đánh bạc thì các bị cáo đã cùng nhau tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi đánh bạc. Bị cáo T1 là người khởi sướng đồng thời lấy quân bài để cùng với các bị cáo khác chơi bạc, bị cáo cũng cho bị cáo T8 100.000 đồng để chơi bạc nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Các bị cáo khác cùng nhau tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi đánh bạc nên có vai trò như nhau trong vụ án. Đối với bị cáo T10 không trực tiếp dùng tiền đánh bạc nhưng giúp sức cho các bị cáo khác trong vụ án đánh bạc bằng hình thức chia bài hộ, lên bài hộ, vào tiền tố và lấy tiền gà giúp bị cáo T8 nên giữ vai trò thấp nhất trong vụ án.

Về số tiền dùng đánh bạc; Bị cáo V dùng số tiền 2.500.000 đồng; bị cáo H dùng số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo T1 dùng số tiền 770.000 đồng; bị cáo T2 dùng số tiền 725.000 đồng; bị cáo T3 dùng số tiền 530.000 đồng; bị cáo T4 dùng số tiền 400.000; bị cáo Văn A dùng số tiền 400.000 đồng; bị cáo H6 dùng số tiền 350.000 đồng; bị cáo T8 dùng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Do đó vai trò, tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo được xem xét trên số tiền mà các bị cáo đã dùng để đánh bạc.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo có nhân thân tốt và đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Các bị cáo V, bị cáo T10, bị cáo A tự giác đến Cơ quan điều tra đầu thú. Bị cáo V có bố đẻ là ông Nguyễn Dụng V1 tham gia kháng chiến được tặng Huy chương kháng chiến; bị cáo T8, bị cáo

T3 có bố đẻ Nguyễn Dụng B tham gia kháng chiến và được thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3; bị cáo H6 có bố đẻ là thương binh hạng A nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.

Xét thấy các bị cáo phạm tội lần này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên thấy chưa cần thiết phải phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội cải tạo tại địa phương cũng là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Khi quyết định hình phạt, phạt bị cáo T1 mức cao cao nhất, phạt bị cáo H, T2, T4 thấp hơn bị cáo T1 nhưng cao hơn các bị cáo còn lại, phạt bị cáo V, Văn A, H6, T3 và bị cáo T8 mức phạt ngang nhau, phạt bị cáo T10 mức thấp nhất tương ứng với tính chất phạm tội của các bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính, nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Phạt bổ sung các bị cáo mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu số tiền và tài sản liên quan đến tội phạm gồm: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.620.000 đồng (gồm có số tiền thu tại bàn bạc 7.620.000 đồng và số tiền 3.000.000 đồng là tiền bị cáo V tự nguyện giao nộp). Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân có các mặt màu đỏ và 01 chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng.

Do bị cáo T4 tự nguyện không nhận lại số tiền 48.000 đồng, bị cáo T2 tự nguyện không nhận lại số tiền 125.000 đồng là tiền không liên quan đến tội phạm nên sung ngân sách Nhà nước số tiền này.

[7]. Liên quan trong vụ án có: Đối với vợ chồng anh Nguyễn Xuân C2 và chị Hoàng Thị M. Sau khi anh C2 uống rượu say đã lên phòng trên tầng 02 để ngủ, mọi người vẫn ăn uống dưới tầng 01, chị M cũng cho con nhỏ ngủ trên tầng 02. Khi lực lượng Công an bắt quả tang anh C2, chị M đang ngủ trên tầng 02 và không biết việc mọi người đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xem xét xử lý là phù hợp.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Dụng V, Phạm Công H, Nông Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Dũng T3, Bùi Ngọc T4, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dụng T8Dương Quang T10 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ Luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nông Văn T1 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt các bị cáo Phạm Công H, bị cáo Lê Văn T2, bị cáo Bùi Ngọc T4 mỗi bị cáo 08 (T14) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ Luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Dụng V, bị cáo Nông Văn A, bị cáo Nguyễn Đức H6, bị cáo Nguyễn Dũng T3, bị cáo Nguyễn Dũng T12 mỗi bị cáo 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Dương Quang T10 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Dụng V, Phạm Công H, Nông Văn T1, Lê Văn T2, Nguyễn Dũng M1, Bùi Ngọc T4, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dụng T8Nguyễn Quang T13 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Giao các bị cáo Nguyễn Dụng V, Phạm Công H, Nông Văn T1, Nguyễn Dũng T3, Nông Văn A, Nguyễn Đức H6, Nguyễn Dụng T8 cho UBND xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Giao bị cáo Lê Văn T2 cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Giao bị cáo Bùi Ngọc T4, bị cáo Dương Quang T10 cho UBND phường Hồ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ Luật hình sự.

3. Áp dụng Điều 47 của Bộ Luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án, tuyên xử.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 10.793.000 đồng. Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân có các mặt màu đỏ và 01 chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

-TAND tỉnh Bắc Ninh.

-VKSND tỉnh Bắc Ninh.

-Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh.

-VKSND thị xã Thuận Thành.

-Công an thị xã Thuận Thành.

-Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.

-Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác.

-Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về đánh bạc

  • Số bản án: 26/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Dụng V và đồng bọn phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger