TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 09-05-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thuý Liễu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Phương Trang; ông Chau Rót Tha.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Lục Trấn N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1978. Nơi sinh: huyện T, tỉnh An Giang; nơi thường trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; con ông Lục H và bà Tạ Kim L; vợ Nguyễn Thị L1; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; anh chị em có 05 người, bị cáo là người lớn nhất.
Tiền án: Ngày 14 tháng 6 năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xử phạt 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), về tội “Đánh bạc”, nộp phạt xong ngày 05 tháng 10 năm 2023.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 25 tháng 01 năm 2024 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Chau Sóc T, sinh năm 1980; địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Ông Lê Như G, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Ông Lê Văn T1, sinh năm 1986; địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982; địa chỉ: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ; bà Nguyễn Thị Thu N1; bà Trần Thị Trúc L2, tất cả đều vắng mặt.
Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Kim S, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Người phiên dịch tiếng H1: Ông Kha T2; công tác Phòng Văn hoá và Thông tin huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ, ngày 22 tháng 8 năm 2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an thị trấn T bắt quả tang Lục Trấn N, Lê Văn T1, Nguyễn Văn C, Lê Như G và Chau Sóc T có hành vi tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền tại nhà của Nguyễn Thị Thu N1 thuộc khóm A, thị trấn T, huyện T. Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 449.000 đồng, cùng vật chứng là công cụ để đánh bạc, điện thoại di động, tiền dùng đánh bạc trên người của Tha 3.000.00 đồng, T1 300.000 đồng, Nam 400.000đồng.
Trước đó, ngày 14 tháng 6 năm 2022, bị cáo N bị Toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xử phạt 30.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”, nộp phạt xong ngày 05 tháng 10 năm 2023. Đến ngày 09 tháng 12 năm 2023, N bị khởi tố để điều tra.
Tang vật thu giữ gồm có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 110, màu đen và sim số 0974303927.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSTT.HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố Lục Trấn N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lục Trấn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Lời khai người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chau Sóc T, Lê Như G, Lê Văn T1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thu N1, Trần Thị Trúc L2 cho biết nội dung như vụ án đã nêu. Bà N1 không biết nhiều người đánh bạc trong nhà. (Bút lục số: 103 - 106, 113 - 114, 119 - 120, 127 - 128, 144 - 150).
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lục Trấn N từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về xử ký vật chứng: Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 110, màu đen và sim số 0974303927.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chau Sóc T, Lê Như G, Lê Văn T1, Nguyễn Văn C; người làm chứng: Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thu N1, Trần Thị Trúc L2. Xét thấy, trong quá trình điều tra những người vắng mặt đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt của họ cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt đối với những người có tên nêu trên.
Tại phiên tòa, vắng mặt người phiên dịch tiếng Hoa. Xét thấy, bị cáo tuy là người dân tộc H1, nhưng biết, hiểu rõ tiếng nói và chữ viết tiếng Việt nên không đề nghị phải có phiên dịch tiếng Hoa. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lục Trấn N đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 22 giờ, ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại nhà bà Nguyễn Thị Thu N1 ở khóm A thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, bị cáo N đã cùng với Lê Văn T1, Nguyễn Văn C, Lê Như G và Chau Sóc T có hành vi đánh bạc trái phép bằng tiền với hình thức lắc bầu cua thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 449.000 đồng, tiền dùng đánh bạc trên người của Tha 3.000.00 đồng, T1 300.000 đồng và N 400.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 4.149.000 đồng, tức dưới 5.000.000 đồng. Nhưng do bị cáo N đã bị kết án về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Đến ngày 22 tháng 8 năm 2022 bị cáo tiếp tục có hành vi tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua với tổng số tiền đánh bạc là 4.149.000 đồng. Do đó, tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích do chưa hết thời hạn đương nhiên được xóa án tích là 01 năm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự. Bị cáo N nộp phạt xong ngày 05 tháng 10 năm 2023. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường và phát triển kinh tế của xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo Lục Trấn N có tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải biết sửa đổi. Nhưng nay lại tái phạm, chỉ vì đam mê cờ bạc xem thường pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc trái pháp luật ăn thua bằng tiền. Do đó, cần có hình phạt xử lý nghiêm để răng đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo N đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Đối với Lê Văn T1, Nguyễn Văn C, Lê Như G, Chau Sóc T có hành vi đánh bạc trái phép với bị cáo N. Xét thấy, số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng và nhân thân của Lê Văn T1, Nguyễn Văn C, Lê Như G, Chau Sóc T không có tiền án, tiền sự. Nên Công an thị trấn T đã ban hành Quyết định xử phạt hành chính mỗi người 1.500.000 đồng đã nộp xong (tại các bút lục 112, 118, 126, 132) là có căn cứ.
Đối với bà Nguyễn Thị Thu N1, tuy bị cáo N và những người liên quan tham gia chơi lắc bầu cua tại nhà bà, nhưng vào thời gian xảy ra sự việc bà N1 đã đi ngủ. Nên khi Công an bắt quả tang bị cáo N, T1, C, G và Tha tham gia đánh bạc thì bà N1 không biết, không thu lợi. Nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lục Trấn N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc và tiền các bị cáo mang theo để sử dụng đánh bạc. Công an thị trấn T đã nộp vào Ngân sách Nhà nước (tại các bút lục 80, 81, 82, 83) là có căn cứ. Nên hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 110, màu đen và sim số 0974303927. Qua điều tra, xác định không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo N.
[8] Về án phí: Bị cáo Lục Trấn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyển bố bị cáo Lục Trấn N phạm tội “ Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lục Trấn N (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 25 tháng 01 năm 2024).
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trả lại cho bị cáo Lục T3 Nam 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 110, màu đen và sim số 0974303927. (Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Lục Trấn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Dương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Thuý Liễu |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục Chấn N
